Trang chủ » Văn Học – Nghệ Thuật

Category Archives: Văn Học – Nghệ Thuật

Nick Kontostavlakis Portfolio

Bao Giờ Chợ Huyện?—Phạm Thế Định

Cuộc đời vô thường, tin buồn đến ngày hôm qua để có bài viết ngày hôm nay. Báo mạng đưa tin anh Bùi Bảo Trúc vừa từ trần tại California (ngày 16 tháng 12). Thế là anh mất sau anh cả tôi nửa năm, anh Trúc sinh năm 1944 thọ 72 tuổi, anh Hãn tôi lớn hơn anh Trúc 2 tuổi, mất ngày 26 tháng 4 năm 2016 vừa qua, thọ 74 tuổi. Sự ra đi của hai anh trưởng, đối với tôi, là một khúc quanh có thể tạo khuất mờ thêm trong tình bạn giữa hai giòng họ Bùi và Đinh của quê hương Trình Phố, Thái Bình.

Họ Bùi và họ Đinh quen nhau và thân nhau từ thuở nào, tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn, nên không rõ lắm. Nghe chuyện người lớn kể thoang thoảng và còn đọng trong ký ức, lẫn lộn với mùi nhang ngày giỗ, hay thủy tiên ngày tết, sự giao tình dễ đã có từ mấy trăm năm trước. Có lẽ từ thời nhà Lê Trung Hưng, tổ phụ hai họ, nhờ có chút ít công lao kháng Minh, đã được nhà vua cấp đất để khai khẩn. Nhờ vậy, một số giòng họ Việt cổ (Mường), sinh sống gần vùng Cẩm Thủy Thanh Hóa cùng thân tộc, đã đến lập nghiệp tại nhiều nơi trên đất Bắc, trong đó có một vùng sát biển của tỉnh Thái Bình, vùng ấy lúc đó còn có tên là Diêm Phả, sau nhiều năm đổi là Trình Phả vì đất đã lấn biển khá lâu không còn ruộng muối (diêm điền). Thời nhà Nguyễn rồi qua thời Pháp thuộc, với sinh hoạt sầm uất lên, làng lại được đổi tên thành Trình Phố, và nay tên mới dưới thời cộng sản là làng An Ninh.

Bác Bùi Văn Bảo, thân phụ anh Trúc và cha tôi là bạn “nối khố” với nhau, có lẽ từ thời cả hai vừa biết nói. Tương kính như tân mà vẫn đằm thắm thân tình. Tình bạn vượt qua bao thăng trầm thời sự, mấy lần dâu biển, để ngay cả khi đã luống tuổi gặp lại nhau bên Mỹ, lúc thân mật, hai người cũng vẫn còn nắm tay, xưng nhau là “cậu tớ”.

Nhà bác Bảo thuở bé nghe kể phải gọi là hàn vi, trẻ nhỏ vào trời lạnh nhiều lúc phải rúc vào ổ rơm cho đủ ấm. Nhưng bác rất chăm học và hiếu thảo. Bác là dòng cháu gọi cụ Bùi Viện bằng ông (?), tức bác thuộc khoảng đời thứ 10 của họ Bùi Trình Phố. Chuyện thâm cung bí sử lọt ra ngoài phong phanh cho biết, cụ Bùi Viện vì bị đám quan lại thủ cựu thời Tự Đức, xàm tấu rằng cụ đã “mạo phạm tội khi quân” chưa có lệnh vua mà đã dám tự ý qua Mỹ, “giả dạng chiếu thư” cầu viện Mỹ đánh Pháp. Nên dù có công, nhưng bị triều đình mật xử trọng tội, phải uống thuốc độc tự tử. Chẳng hiểu vua Tự Đức đóng vai trò gì trong vụ này, sử chỉ chép rằng nhà vua đã có lời phê: “Trẫm đối với ngươi chưa có ân nghĩa gì, mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỷ thần ắt cũng chứng cho”. (Hàm ý tự quyết định làm chuyện nước?). Có lẽ vì “bị triều đình mật xử” nên dù vẫn theo đuổi nghiệp nhà, dòng cụ Bùi Viện qua đến thời bác Bảo không còn đi thi để làm quan nữa, mấy đời theo nho học ruộng đất không có, nên con cháu phải chịu sống nghèo. Sống nghèo dưới cái đình đã được dựng kèo bằng gỗ quí mà cụ Bùi Viện đã tặng cho làng từ rừng cao đem về.

Sau khi triều đình Huế, dưới áp lực của Pháp, phải bỏ chế độ khoa cử và lối học tiếng Hán, bác Bảo lại có dịp trở lại nghiệp quan trường. Bác và cha tôi cùng lên Hà Nội theo học trường Bưởi. Nhưng bác chỉ học qua brevet (bằng trung học), sau đó vào trường sư phạm rồi khi ra trường được cử lên Thái Nguyên Phú Thọ dạy học. Trong lúc đó cha tôi vẫn ở lại học hết bậc trung học rồi ghi danh học đại học y khoa nhưng bỏ dở, về quê Thái Bình mở trường tư thục Bùi Viện (Trần Lãm). Vào năm 1946, bác Bảo về Trình Phố làm hiệu trưởng trường tiẻu học công lập cho đến năm 1952; bác cũng nhận lời cha tôi để dậy thêm Việt Văn và Pháp Văn cho trường Bùi Viện.

Đó là chuyện xưa tích cũ, tôi chỉ nghe hay đọc đâu đó, góp nhặt để tìm hiểu thêm. Nhưng điều gây ảnh hưởng trên cuộc đời tôi và để lại nhiều ấn tượng nhất là tờ báo Tuổi Xanh mà bác Bùi Văn Bảo đã khai sinh và điều hành vào vài năm cuối thời Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam. Cha tôi cũng đóng góp cho tờ báo dưới tên giáo sư Vi Lô, chuyên về việc dạy toán qua thơ, hay đố vui ông nghĩ ra, theo cách giáo sư Hoàng Xuân Hãn, chẳng hạn 4 câu thơ sau:

Một đàn thiếu nữ hái hoa hồng
Mỗi cô hai đóa hai cô không
Mỗi cô một đóa thừa hai đóa
Bó hồng mấy đóa biết hay không?

Những năm đó, tức chỉ sau chưa tới 7-8 năm di cư vào Nam, bác Bảo đã gây được một sự nghiệp khá giả, và nếu tôi nhớ không lầm, bác đã lập được nhà xuất bản Nhật Tảo cũng như đã sắm được một chiếc xe ô tô, có lẽ một phần nhờ bởi việc người Mỹ có giúp VN xuất bản một số sách giáo dục nhi đồng. Trong lúc đó, sinh kế gia đình tôi coi như cũng tạm hồi phục, sau khi đã mất gần như sạch nhẵn mọi đất đai của cải ngoài Bắc. Sau khi tờ Tuổi Xanh được cho ra đời một vài năm, anh Trúc được bác Bảo gửi đến học toán tại nhà tôi. Anh Trúc lúc đó khoảng 15-16 tuổi gì đó, có hai đặc điểm mà tôi còn nhớ, là anh cận rất nặng, và nói lắp cũng nhiều. Nhà tôi lúc đó ở trong một căn hẻm đường Yên Đổ, cạnh hiên có giàn hoa giấy đỏ, anh Trúc cùng anh cả và anh hai tôi và mấy cô em họ cùng lớp, lợi dụng lúc cha tôi chưa về tới, chơi bắn súng nước inh ỏi như con nít dưới giàn hoa đó.

Có lẽ nhờ vào nguồn gốc là cháu “người đại sứ” đầu tiên Việt Nam tại Mỹ, anh Trúc có khả năng nói và viết tiếng Anh lưu loát. Sau khi đỗ tú tài hai, anh Trúc được học bổng Colombo đi du học tại Tân Tây Lan, cho đến năm 1967 thì về lại nước. Vào giai đoạn đó, anh Trúc không đến thăm nhà tôi nữa, dù có thời anh đã là bạn học Chu Văn An với anh thứ hai của tôi, lúc này đã nhập ngũ. Thỉnh thoảng tôi cũng gặp anh tại đầu ngõ nhà mới dọn về ở hẻm 220 đường Trương Minh Giảng, nhưng cũng chẳng kịp chào hỏi gì nhau. Tôi không nghĩ là anh còn nhớ tôi. Lúc đó có thể anh đến nhà ông Phạm Kế Viêm hay Dương Phục gì đó. Lúc này anh chạy chiếc xe Vespa (hay Lambretta?), hay mặc áo trắng ngắn tay kiểu Mỹ, có lúc thắt cravate loại nhỏ mặt, không còn đeo kính cận dầy như cái đáy chai thủy tinh nữa. Đặc biệt nhất là tôi được người quen cho biết rằng anh đã chữa được tật nói lắp, lại giữ chức vụ khá quan trọng trong ngành truyền thông hay ngoại giao.

Cho đến lúc tôi qua Nhật, tình cờ ở chung phòng với anh Sơn, em kế của anh Trúc. Nhưng tôi và anh Sơn ít trao đổi thông tin về bác Bảo và anh Trúc, chỉ biết qua báo chí trong nước là anh Trúc có vẻ thân với Hoàng Đức Nhã, cháu ông Thiệu, và được cử làm phát ngôn viên chính thức của phủ tổng thống, cho đến khoảng cuối năm 1974, được chuyển qua làm việc tại Luân Đôn.

Vào những ngày tháng cuối của miền Nam, một số tin tức cho biết anh Trúc đã đào nhiệm và qua Canada di trú. Tai đây đã có anh Th. là em anh Sơn du học qua trước đó nhiều năm. Có lẽ nhờ vào đó mà anh Sơn và sau đó đại gia đình bác Bảo sau khi vượt biển cũng đến Canada định cư.

Sự định cư và hội nhập của người Việt trong giai đoạn đầu rất mạnh mẽ và lạc quan. Tôi theo dõi những hoạt động của bác Bùi Văn Bảo và các ông Đinh Thạch Bích, Đào Hữu Dương… trong công việc bảo tồn văn hóa, và tinh thần tự do không cộng sản trong các cộng đồng tại Bắc Mỹ. Bốn câu thơ vào lúc đó được phổ biến mạnh là:

Khắp nẻo non sông bừng khói lửa
Ai người yêu nước động lòng chưa?
(Phan Bội Châu)

Chỉ sợ đàn con quên Việt ngữ
Đừng lo lũ trẻ kém Anh văn.
(Bùi Văn Bảo)

Bác Bảo còn nhờ họa sỹ vẽ và cho xuất bản bộ sử Việt bằng tranh, cũng như bảo tồn nhiều băng thơ nhạc Việt Ngữ, vì trong nước vào giai đoạn gọi là “trước đổi mới”, người cộng sản đã phát động chiến dịch đốt sách, hủy diệt văn hóa mà họ cho là “phản động” hay “đồi trụy”, trên thực tế là muốn Mác Xít hóa toàn bộ văn hóa Việt Nam.

Trong lúc đó anh Trúc cũng dời qua Washington DC làm việc trong Ban Việt ngữ đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho mãi đến năm 2002, mới rời đài VOA về sống tại Nam California, tiếp tục làm việc tại đài Little Saigon Radio, tuần báo Viet Tide đồng thời là gương mặt quen thuộc trên đài Hồn Việt TV. Trong lãnh vực văn học, anh Trúc giữ mục “Thư Gửi Bạn Ta” cho báo Người Việt và để lại nhiều ưa thích trong lòng độc giả, qua giọng văn “đặc Bắc Kỳ Chu Văn An” dí dỏm nhiều tình cảm.

Vào năm 1998, ở Úc, tôi nhận được một lá thư của cha tôi từ Mỹ báo tin “bác Bảo đã mất”, tôi đọc được trong mấy chữ ngắn ngủi đó, biết bao là xót xa, thương cảm và mất mát. Tôi đã nhớ đến khuôn mặt rạng rỡ của cha tôi và của bác Bảo mỗi lúc họ gặp nhau, nhớ đến bộ áo màu nhạt 4 túi mà giai đoạn sung túc bác hay mặc vào dịp tết, nhớ đến hình ảnh “chợ huyện Trình Phố tại thôn trung”, vẽ qua hồi ức của cha tôi khi kể về tình bạn hai người, nhớ về những câu thơ mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã khóc bạn Dương Khuê của mình:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương
Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu ép lấy hai đường lệ rơi
 

Sáu năm sau cha tôi từ trần tại quận Cam vào ngày 24 tháng 5 năm 2004. Trong suốt gần 3 ngày canh quan tài tại nhà quàn, chờ thân bằng quyến thuộc cùng bạn bè, đồng nghiệp và học trò mọi nơi, đến thắp nén nhang chào từ giã lần cuối cha tôi, điều làm tôi cảm động vô cùng là sự có mặt của anh Trúc. Mặc dù anh bận nhiều việc, nhưng trong cả ba ngày, bắt đầu từ khoảng 9-10 giờ sáng anh đều đến ngồi ngay hàng ghế thứ nhì để cùng dự lễ với gia đình chúng tôi. Anh tới như một người học trò cũ, như người con một người bạn thân giữ lễ cho gia đình, như một kẻ sĩ trọng luân thường đạo lý, như một người cùng làng cùng gốc, hay một người trưởng họ tôn trọng nếp cũ…, tôi không rõ. Anh ngồi im lặng ngoại trừ khi phải tiếp chuyện với một số người trong gia đình tôi đến hỏi thăm. Đó cũng là lý do tôi đã không đến trò chuyện lâu cùng anh. Trên chuyến máy bay dài thênh thang về lại Úc, tôi nghĩ rằng “anh đến và ngồi như chứng tích cho tình bạn lâu bền của hai giòng họ Bùi và Đinh Trình Phố”

Anh đã mất, nhưng mong rằng chứng tích đó đừng nhạt phai.

Bao giờ chợ Huyện lại vui
Cho bao quá khứ bùi ngùi qua đi
(Phạm Thế —Dec. 2016)
 

Chú thích: (Học sinh đã học đại số, chỉ cần dùng cách hai phương trình hai ẩn số, chọn x là số thiếu nữ, y là số hoa, rồi cân bằng phương trình, là có thể tìm ra số hoa là 8 và có 6 cô tất cả).

Asia Icon

Bùi Bảo Trúc | Giữa ma-trận của ngôn ngữ & cuộc đời—Bùi Vĩnh Phúc

1.

Lại một người bạn nữa của tôi ra đi. Bùi Bảo Trúc. Sự lên đường của anh làm tôi, cũng như rất nhiều người khác, buồn, tiếc. Riêng tôi, lại còn có một điều gì đó như nghèn nghẹn. Một nghèn nghẹn trong nỗi hồi tưởng. Và tôi bắt đầu cuộc nhớ miên man của mình về anh. Một nỗi nhớ có mình ở trong.

Khi từ bỏ bạn bè mình, anh chỉ mới 72 tuổi. Nói chung, với cái sống của người đời, ra đi vào độ tuổi này là đúng nhẽ. Người xưa còn bảo là “thất thập cổ lai hy”, 70 tuổi xưa nay hiếm thấy. Thế nhưng, với con người của Bùi Bảo Trúc (BBT), một người hết lòng thiết tha với việc viết lách, việc “làm báo”, một người năng động, thích chia sẻ đủ mọi thứ chuyện với bằng hữu cũng như với người đọc, người nghe, cùng với bao nhiêu việc mà anh đang dự định hoàn tất nhưng vẫn còn đang dang dở, sự ra đi của anh, trong cảm nhận riêng tôi, vẫn là khá sớm.

Từ những năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là sinh viên, BBT đã bắt đầu chính thức bước vào nghiệp chữ nghĩa. Trước hết là trong những bài viết trên mục “Lá Thư Tân Tây Lan” (nơi tác giả du học) trên nhật báo Tự Do ở Sài Gòn, sau đó là trong vai trò phát ngôn nhân chính phủ của Việt Nam Cộng Hòa vào giai đoạn cuối cuộc chiến, rồi đến những ngày làm việc tại đài VOA (Tiếng Nói Hoa Kỳ), cùng lúc bắt đầu viết tạp ghi trên tờ Văn Nghệ Tiền Phong ngay từ những năm đầu thập niên ’80. Trong tất cả những vùng đất, những không gian đòi hỏi phải sử dụng chữ nghĩa ấy, BBT đã cho thấy anh là một người của ngôn ngữ. Anh gắn bó với chữ nghĩa. Và cũng thích đùa cợt với nó. Một cách sâu sắc. Nhiều khi đi kèm với một thái độ châm biếm. Nhưng hầu như lúc nào anh cũng giữ được sự duyên dáng trong cung cách tiếp cận với ngôn ngữ của mình.

Bùi Bảo Trúc là một người “phức tạp”. Có nghĩa, khi nói về con người anh, người ta có thể đứng từ nhiều góc độ, để xét về những khía cạnh khác nhau. Có nhiều mặt rất tích cực; nhưng ở một vài phương diện (như đời sống của hầu như bất cứ ai trong chúng ta), người ta cũng có thể phê phán, thậm chí chê trách anh. Đó là số phận của những con người có cá tính mạnh. Sống thẳng. Nhất là những con người đó, ở một số khía cạnh, lại là những người thuộc về quần chúng, những người tự phơi bày cuộc đời mình dưới những ngọn đèn hàng trăm nến của dư luận. Có lẽ, hơn nhiều người trong chúng ta, anh đã sống hết sức mãnh liệt, thậm chí có những lúc rất cực đoan, và anh sẵn sàng bày tỏ ý kiến riêng của mình trước công luận trên nhiều mặt. Có rất nhiều điều, thuộc phạm vi “nhậy cảm”, anh đã lên tiếng trên những trang báo của mình. Như những vấn đề chính trị, phái tính. Những cái yêu, cái ghét, cái giận, cái bực, cái thương, cái chủ quan của con người trong cuộc sống. Vân vân. Loạt bài “Thư Gửi Bạn Ta” của Bùi Bảo Trúc, được viết liên tục mỗi ngày từ năm 1989 cho đến tháng Chín 2016, tức là gần 30 năm, lúc đầu trên các báo Người Việt ở Westminster và Việt Nam Nhật Báo ở San Jose, và sau này trên nhiều tờ báo khác (và sau đó lại được phổ biến rộng khắp trên nhiều diễn đàn mạng), trước khi tác giả của nó ra đi khoảng hai tuần trước lễ Giáng Sinh 2016, đã cho anh rất nhiều cơ hội để nói lên bao suy nghĩ của mình về đủ mọi mặt của cuộc sống. Tất cả những hỉ nộ ái ố ai lạc dục của người đời, kể cả của anh nữa, đều được anh bày biện trong đó. Một cách rất duyên dáng, tài hoa, gần như lúc nào cũng với ít nhiều châm biếm. Và sâu sắc.

Bây giờ Bùi Bảo Trúc đã nằm xuống. Rất nhiều điều anh đã làm, đặc biệt những điều anh đã viết ra, đều có thể được nhìn ngắm và đánh giá ở những góc cạnh khác nhau, tùy theo vị trí nhìn ngắm cũng như chủ kiến của những người có thể đưa ra những lời phẩm bình, phê phán, khen tặng và đánh giá. Sau khi anh không còn nữa, tôi đã được đọc một số bài báo/tùy bút viết về anh. Có thể nói tất cả đều cho rằng anh là một nhà báo chuyên nghiệp, tài hoa và sâu sắc. Và tận tụy với nghề. Tôi cho rằng tác giả những bài viết ấy có những lý do khách quan, chính đáng và có cơ sở để lên tiếng như thế. Ở đây, trong vị trí của một người có khá nhiều kỷ niệm riêng tư với anh, cũng như đã chia sẻ với anh một số sở thích, tôi muốn viết về Bùi Bảo Trúc chủ yếu như một người bạn. Một người bạn yêu văn chương, chữ nghĩa. Và đã để hết cả cuộc đời mình để học hỏi, dùi mài cái sở thích cũng như cái niềm vui có nhiều nét cao nhã này.

Tôi sẽ thử viết về Bùi Bảo Trúc, một kẻ lăn lộn giữa ma-trận (matrix) của ngôn ngữ và cuộc đời. Và, một cách nào đó, ở một khía cạnh nào đó, viết về một người bạn, như thế, cũng có nghĩa là viết về chính mình.

2.

zpfile001

Bùi Bảo Trúc, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Quốc Bảo, và Ngọc Hoài Phương (hình Interrnet)

Bùi Bảo Trúc hơn tôi 9 tuổi. Và anh đã “vào đời” trước tôi trên một số phương diện. Tôi không quen biết anh những ngày chúng tôi còn ở Việt Nam trước năm 1975. Nhưng, ở một khía cạnh nào đó, tôi lại được biết và “quen” với ông cụ thân sinh anh, nhà giáo Bùi Văn Bảo, một người được tiếng rất tốt là yêu mến chữ nghĩa Việt và luôn khuyến khích, khuyên nhủ các bậc phụ huynh Việt sau cuộc “xảy đàn tan nghé”, trôi dạt khắp nơi trên quả địa cầu, chăm lo cái gốc tiếng Việt cho con cái mình. Một câu nói nổi tiếng, nếu tôi nhớ không lầm là của cụ, trong những đợt cụ hô hào phụ huynh Việt Nam quan tâm và giúp cho con em mình, hiện trong cảnh sống xa quê hương, đặc biệt sống ở các xứ nói tiếng Anh, học hỏi ngôn ngữ và văn hóa Việt. Đó là câu khuyên nhủ mà nhiều người trong chúng ta còn nhớ: “Chỉ sợ đàn con quên tiếng Việt / Đừng lo lũ trẻ dốt Anh văn”. Đúng là như vậy, trẻ con Việt Nam ở ngoài nước, học tiếng Anh hay những thứ tiếng bản xứ nơi các em, các cháu cư ngụ rất nhanh. Nhưng nếu bố mẹ, ông bà không quan tâm, thiết tha đến tiếng Việt và văn hóa Việt, để dạy dỗ (hoặc nhờ dạy dỗ qua các trung tâm Việt ngữ trên khắp các nước trên thế giới có người Việt định cư), và khuôn nắn các em, các cháu trong tinh thần văn hóa Việt, chắc chắn việc lũ trẻ đánh mất nguồn cội dân tộc là điều ta có thể nhìn thấy trước mắt.

Tôi quen cụ Bùi Văn Bảo, là thân sinh của bạn tôi, trước khi quen biết anh, từ những ngày còn ở Việt Nam như thế này. Khi tôi lớn lên, có một số tờ báo dành cho thiếu nhi và thiếu niên ở Việt Nam mà tôi được tiếp cận và, qua đó, được học hỏi nhiều điều bổ ích; ngoài ra, cũng qua những tờ báo này, tôi nhìn thấy lòng yêu thích chữ nghĩa, văn hóa Việt Nam phát triển nơi tâm hồn mình. Đúng hơn, những tờ báo ấy đã gieo những cái mầm tươi tốt trong lòng tôi, một đứa trẻ có lẽ cũng đã có sẵn cái mảnh đất tinh thần nhỏ bé khá mầu mỡ mà bố mẹ và gia đình đã cày xới trong lòng nó từ những ngày còn nhỏ. Hai trong những tờ báo loại đó còn tạo được những ấn tượng đẹp đẽ trong lòng tôi là tờ “Phụ trương Ngôn Luận / Văn Nghệ Học Sinh-Gia Đình” của nhà văn Phạm Cao Củng và tờ “Tuổi Xanh” của nhà giáo Bảo Vân. Bảo Vân đây chính là cụ Bùi Văn Bảo.

Ngày ấy, dạo học những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ, tức là khoảng năm 13 hay 14 tuổi, tôi bắt đầu tập làm thơ. Và tôi ngồi mơ mộng làm những bài thơ học trò gửi cho “anh” Bảo Vân. Cụ Bảo Vân rất sõi tâm lý. Trên những trang báo của mình, Cụ xưng “anh” với các em độc giả thiếu nhi/thiếu niên rất thoải mái. Tôi chẳng biết “ất giáp” gì về cái mẹo tâm lý ấy nên cứ ngồi viết thư cho “anh” Bảo Vân, mà tôi nghĩ là chắc chỉ hơn mình chục tuổi là nhiều, như là viết… thư tình. Và gửi các bài thơ mình làm cho tờ báo. Thơ tôi (dĩ nhiên là được ký với “bút hiệu” cho đúng… phong cách) đã được “anh” Bảo Vân đăng khá nhiều trong suốt thời gian đó. Tôi nhớ có lần, vào một buổi chiều Chủ Nhật, trên căn gác nhà mình, làm được mấy bài thơ đắc ý, tôi ngồi nắn nót chép lại. Rồi, tôi lấy một tờ giấy trắng ra viết thư cho “anh” Bảo Vân để gửi những bài thơ tâm đắc ấy. Tôi say sưa để lòng mình… phơi trên trang giấy mà không hề biết là ông cụ của tôi đã đứng sau lưng mình tự lúc nào. Chắc ông cụ, khi lên gác, thấy thằng bé con ngồi cặm cụi say sưa viết lách nên tò mò đứng im sau lưng quan sát. Xem hắn viết cái gì. Một lúc sau, có lẽ đã quan sát đủ và biết được đứa con mình đang viết “tình thư” cho ai, ông cụ khẽ đằng hắng một cái. Tôi giật mình quay lại và xấu hổ lấy tay che đi lá thư. Ông cười một cách hóm hỉnh và đáng yêu rồi bảo, “Con viết cho xong lá thư đi, rồi ngủ một giấc ngắn. Chốc nữa còn xuống ăn cơm!” Tôi choáng cả người, nhưng cũng thầm cám ơn bố vì ông đã không bảo tôi đưa lá thư cho ông xem. Dù sao, tôi nghĩ ông cũng đã đọc hết lá thư mà tôi đã viết gần xong cho “anh” chủ bút Bảo Vân.

Sau này, khi đã ở bên Mỹ, có dịp liên lạc lại với cụ Bùi Văn Bảo, cụ cám ơn tôi, “một người đã ‘hợp tác’ với tờ báo”, còn nhớ đến cụ. Và cụ quý mến gọi tôi là “một người đồng tông”. Vì mối “quan hệ” này mà, về sau, đôi khi để trêu cợt người bạn lớn tuổi của mình, tôi bảo với anh là tôi có quen biết lớn với ông cụ của anh, anh liệu mà cẩn thận… Những lúc ấy, có chuyện gì Bùi Bảo Trúc cũng chẳng dám “nho nhoe”. Anh rất yêu quý ông cụ của mình. Và, dĩ nhiên, cả bà cụ của mình nữa.

Nhưng dù cho có liên hệ với cụ Bùi Văn Bảo như thế, tôi và BBT cũng chẳng hề biết gì về nhau. Cho đến khi tôi chung tay làm nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới), rồi nguyệt san Văn Học, với anh Nguyễn Mộng Giác và một vài văn hữu khác từ tháng Năm, 1985.

Bùi Bảo Trúc lúc ấy đang làm tại đài VOA, sau khi anh đã thành công trong việc xin chuyển nơi cư trú từ Canada sang Hoa Kỳ. Anh Trúc, dù lúc ấy đang viết loạt tạp ghi, nếu tôi nhớ không lầm, đặt tên là “Nói Với Đầu Gối”, và ký tên là Ngụy Trúc, trên báo Văn Nghệ Tiền Phong trên Washington, D.C., có lẽ cũng cảm thấy dòng máu văn chương đang chảy thêm một nhịp chảy khác, đằm thắm hơn, thơ mộng hơn, trong trái tim mình, nên đã làm một số bài thơ và, đặc biệt, dịch một số đoạn thơ trong tập “The Lover’s Gift” (“Tặng Vật của Tình Nhân”) của R. Tagore. Có lẽ anh muốn tìm một nơi xứng đáng và trang trọng để gửi gấm các sáng tác của mình. Nguyệt san Văn Học, lúc ấy, có lẽ là một trong những diễn đàn mà anh có lòng yêu và đánh giá cao. Anh không quen với nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Và chắc cũng không quen với một ai khác trong nhóm chủ biên. Lúc ấy, tôi là một người đang âm thầm giúp cho anh Giác trong việc lựa lọc bài vở cho tờ báo. Tôi cũng đã viết nhiều tiểu luận văn học trên trang báo này cũng như ở một số diễn đàn khác. Dù sao, Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới), rồi sau đó là Văn Học, đã là “trú sở” chính của tôi. Là người, cùng với một vài văn hữu khác, gầy dựng tờ báo từ trong trứng nước, và cùng sắp xếp bài vở để tờ Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, rồi sau đó là Văn Học, sau khi chuyển tiếp từ tờ Văn Học Nghệ Thuật bộ cũ (còn dính dáng nhiều đến tên tuổi của nhà văn Võ Phiến), tôi có cái duyên gắn bó lâu bền với những tờ báo này. Chúng tôi đã cùng nỗ lực phân công trong việc sắp xếp và đóng góp bài vở ngay trong số đầu tiên của cả hai tờ báo. Rồi trong suốt trên 230 số báo cho đến tháng Tư, 2008. Sống trong cùng một địa bàn với Nguyễn Mộng Giác, và, trong giai đoạn đó, có điều kiện phụ giúp trong việc chọn lựa bài vở, trao đổi ý kiến về nội dung của các bài được chọn để đưa lên trang báo hàng tháng với Nguyễn Mộng Giác, tôi trở nên một trong những khuôn mặt khá quen thuộc của diễn đàn này.

Tôi không nhớ rõ là từ ai mà Bùi Bảo Trúc có địa chỉ của tôi. Anh viết cho tôi một lá thư, tự giới thiệu, và cho biết đã đọc nhiều bài tiểu luận văn học mà tôi đã viết. Anh muốn được quen biết tôi trong tình văn chương, và gửi cho tôi một ít bài thơ của anh. Tôi chọn một vài bài mình thích và đưa cho anh Giác. Từ đó, BBT là một thân hữu cộng tác với Văn Học. Ngoài thơ ra, có lần, như đã nhắc ở trên, anh gửi cho tôi vài chục đoạn thơ từ tập “The Lover’s Gift” (mà anh dịch thành “Tặng Vật của Tình Nhân”) của R. Tagore trong một tập tài liệu đánh máy và đóng lại thật cẩn thận. Dạo ấy, cuộc sống của chúng ta nói chung, của người Việt và các nhà văn Việt nói riêng, chưa có computer, chưa có desktop hay laptop gì cả, chưa nói đến các thiết bị tiện nghi khác như bây giờ. Anh Trúc đánh máy và sắp xếp tập sách một bên là tiếng Anh, một bên là tiếng Việt, rất công phu. Tôi đọc và thấy ngoài một ít bài thơ tình mang nhiều nét thi ca rõ rệt, những bài thơ khác của anh được viết một cách có vẻ chân chất, giản dị nhưng, nếu đọc kỹ, đầy nét thơ mộng và văn chương. Tôi cho rằng phải là một người có bản lĩnh, có tay nghề chữ nghĩa cao thì mới viết được những câu thơ vừa giản dị mà lại vừa nhiều chất thơ như vậy.

Tôi nhớ bài thơ “Gửi Căn Nhà Cũ” của anh (cùng với nhiều bài thơ của những nhà thơ khác mà tôi yêu mến và thấy thích hợp) mà tôi đã đưa vào trong giáo trình giảng dạy tại các lớp học về Ngôn Ngữ & Văn Hóa Việt Nam tại đại học của mình. Bài thơ đó, ngôn ngữ giản dị nhưng nói lên và mang lại được nét hoài cảm thiết tha cho những người xa quê. Một nỗi nostalgy mang nhiều chất thơ:

Hãy tưởng tượng khi bước vào cuối ngõ
Căn nhà xưa rêu phong kín tường vôi
Khung cửa sắt sơn đã bong lỗ chỗ
Chìa khóa mòn trong ổ bỗng reo vui
(…)
Hãy tưởng tượng trong khu vườn thuở trước
Cây ngọc lan ngày đó đã ra hoa
Mấy bụi trúc và một hàng thược dược
Mùi đất thơm cơn mưa nhỏ đầu mùa

Hãy tưởng tượng khi bước chân lên gác
Bàn ghế còn nguyên, sách vở còn bầy
Bỗng nghe thoáng tiếng mưa khuya dìu dặt
Những giọt buồn rơi mãi xuống đêm nay

Hãy tưởng tượng đêm sẽ nằm nghe gió
Trên chiếc giường thân thiết mấy năm xưa
Mấy con muỗi nhận ra người bạn cũ
Chú thạch sùng trong vách cũng bò ra

Hãy tưởng tượng trở về nơi hẹn cũ
Thăm hàng sao và bể nước đầy mây
Trên ghế đá vọng âm lời tình tự
Nét chữ mờ quấn quýt vẫn còn đây (…)

Cũng với tâm tình thiết tha, và chữ nghĩa giản dị một cách thần tình, như thế là bài “Trở Về Căn Nhà Cũ Ở Sài Gòn”:

Hỡi căn nhà của ta thời tuổi trẻ
Của những chiều mưa buồn gõ xuống mái tôn
Những buổi sáng nắng lùa qua khe cửa
Vẫn theo ta những đêm tuyết mịt mùng

Hãy ngỏ cửa, đêm nay ta trở lại
Cánh cửa ơi có còn nhớ nhau không?
Chiếc chìa khóa năm xưa ta làm gẫy
Mấy chục năm trời trên cổ vẫn tòn ten (…)

Còn tập thơ dịch những bài thơ xuôi của Tagore thì đẹp và thật thơ mộng, chưa kể sự chính xác trong cách dịch chúng. Tôi đề nghị anh Giác đăng vài đoạn thơ dịch Tagore của BBT. Nhiều độc giả cũng yêu mến thơ anh và tài năng dịch của anh. Tình thân của chúng tôi mỗi ngày mỗi khăng khít hơn.

Sau này, vào những năm trước khi BBT xuống định cư hẳn ở Nam California và làm việc cho một số cơ sở truyền thông tại đây, mỗi khi có dịp lên vùng Washington, D.C. vì chuyện này hay chuyện nọ, tôi gần như đều “ở trọ” tại nhà anh. Lúc đầu tại Falls Church; sau, tôi nhớ là ở một vùng khác cũng gần đó. Anh lo cho tôi thật chu đáo, đón từ phi trường, đưa về nhà, lại đưa đi thăm đủ mọi nơi mọi chỗ của các thân hữu. Qua anh, tôi cũng có thêm được một vài người bạn trên vùng thủ đô này. Tôi nhớ những buổi tối ở nhà anh, ngoài việc hí hửng khoe với tôi những chiếc máy bay mà anh đã công phu tự lắp ráp lấy, và nói rằng đó là hobby của mình (lúc ấy, khuôn mặt của “chàng” ánh lên nét thơ trẻ, hồn nhiên, đầy hạnh phúc), anh còn khoe và có những khi tặng tôi một số sách vở, tài liệu quý. Tôi nhớ lần đó anh tặng tôi một cuốn sách nhỏ bằng tiếng Anh, không biết anh đã mua được ở đâu, tập hợp những bài thơ tiếng Anh, Pháp, Đức, v.v., của một số học giả và “tài tử gia” thế giới giới thiệu, dịch và bình bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu. Những bản dịch thơ rất hay, nhưng cũng có những bài rất “choáng”, rất diễu và … “tưng tửng”; trong đó, có một bài dám biến cánh “hoàng hạc” của Thôi Hiệu thành một “tên lửa” (fire rocket) chở ông già thơ bay vào tận không gian mù mịt. Bùi Bảo Trúc rất thú cái phong cách dịch của kẻ tài tử kia. Dù sao, anh cũng nói với tôi, “Cái thằng hỗn thật. Dám mang “ông cụ” [Thôi Hiệu] ra diễu!”

Dịp này, tôi cũng nhân tiện góp ý về những bài viết của anh trong loạt bài “Nói Với Đầu Gối” (tiền thân của loạt “Thư Gửi Bạn Ta”) anh đi trên Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi cho rằng các bài anh viết rất thú vị, hoạt và rất hóm hỉnh, sinh động. Nói được nhiều vấn đề trong cuộc sống. Dù sao, tôi nghĩ nếu anh bỏ bớt đi phần bực giận (cho dù bực giận trong châm biếm), đôi khi đi đến chỗ hơi thô, mịch, thì các bài viết của anh sẽ đạt được nhiều hiệu quả hơn nữa. Tôi thấy, anh có tone down về mặt đó sau này. Nhất là trong loạt “Thư Gửi Bạn Ta”. Dẫu sao, tính cách con người, đổ xô lên mặt chữ, lên phong cách văn học, của một nhà văn, nhà báo, cũng là nét đặc thù của mỗi người cầm bút. Nó làm cho họ ghi được cái dấu ấn của mình. Cách này hay cách khác. Với những hiệu ứng tích cực hay tiêu cực riêng.

Tôi nhớ chúng tôi đã ngồi nói chuyện suốt mấy đêm về gần như tất cả mọi thứ trên đời. Phim ảnh, âm nhạc, tranh, thơ Việt, thơ Tàu, thơ Pháp, thơ Nga, thơ Ái-nhĩ-Lan, thơ Mỹ… Thơ dịch. Văn dịch. Phong cách dịch. Pipi. Caca. Những cây cối cùng đám lá ướt lóng lánh, những con ngõ cũ kỹ, những đêm mưa nhòa nhạt, những vũng lầy trong đường phố Sài Gòn xưa. Những hồn ma cũ. Ôi, cái “nostalgie de la boue” (“nỗi nhớ bùn nhơ”) của những hình ảnh quê nhà. Có thể nói, tất cả mọi chuyện, cuối cùng, giữa chúng tôi, lại chỉ quy về chuyện văn chương. Hay, nói đúng ra, nói về bất cứ chuyện gì, chúng tôi cũng đều tìm ra được “một sợi chỉ đỏ xuyên suốt” của văn chương chạy lần qua đó. Cái “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”, ở đây, là một thành ngữ của văn chương thế giới (như trong danh ngữ “the red thread of narrative”) để chỉ cái cốt lõi chạy suốt một tác phẩm hay một câu chuyện kể, không có dính dáng gì đến chủ nghĩa Cộng Sản cả. Tôi yêu và gần Bùi Bảo Trúc ở điểm này. Nói chuyện gì rồi thì, giữa chúng tôi, cũng chỉ là những câu chuyện văn chương!

Bùi Bảo Trúc thích nghịch và chòng ghẹo bạn bè. Anh hay làm thơ chòng ghẹo mọi người. Ngoài ra, những bài thơ theo “trường phái” Bút Tre ở hải ngoại, theo tôi biết, là đã phát xuất từ anh. Rất sớm. Trên 30 năm trước. Trước khi trên mạng và trong nước có những rộn ràng và cập nhật về “trường phái” thơ này. Những chuyện vừa nói làm tôi nhớ đến một người bạn văn chương khác của tôi, cũng tài hoa …đa dạng như BBT, và có lẽ cũng trạc tuổi anh, cũng hay thích trêu chọc bạn bè như thế. Đó là Nguyễn Bá Trạc. Tác giả của Ngọn Cỏ BồngChuyện Của Một Người Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải. Nguyễn Bá Trạc, dù sao, cũng còn khỏe, đang chịu giá rét một cách hạnh phúc (bên người yêu dấu) ở mãi tận đất Phần Lan, ngay cạnh con gấu Putin Nga Xô. Cái tính nghịch ngợm, tinh quái, nhưng lại đầy nét tài hoa ấy của BBT đã được anh đưa vào loạt tạp bút Thư Gửi Bạn Ta mà trong suốt khoảng gần 30 năm anh đã đeo đuổi hay bị nó đeo đuổi (Có lẽ anh có hơn cả ngàn bài, hay gần hai ngàn bài trong loạt này? Vì chỉ trong ba quyển “Thư Gửi Bạn Ta” do nhà xuất bản Văn Nghệ in trong ba năm 1995, 1996 và 1997, mỗi quyển đã có khoảng trên dưới 100 bài, tập hợp các bài trong khoảng sáu tháng mỗi cuốn).

Cái thu hút độc giả khi đọc loạt bài này của BBT là do nơi anh đọc nhiều, nhớ kỹ, trình bày vấn đề lôi cuốn, hấp dẫn, lại rất duyên dáng, nói chung. Nhất là anh có trí liên tưởng nhạy bén, dễ “bàn ngang tạt dọc” đủ mọi vấn đề trong đời. Nhảy múa rất khéo. “Lăng ba vi bộ” rất hay. Kết bài thường như xạ thủ bắn trúng hồng tâm. Cái tính cách ấy, của một ký mục gia, một người dọc ngang, từng trải “sự đời”, một kẻ tài tử, thậm chí cũng được anh đưa vào trong lời “góp vui” đám cưới của anh. Đăng trên báo chí cẩn thận. Trong sự vụ này, anh còn lôi kéo thêm bạn bè cùng đứng chung với mình để “đùa yêu” cho vui! “Chàng” là như thế:

clip_image003

“Kẻ tài tử” Bùi Bảo Trúc và phong cách nghịch ngợm trong chúc mừng đám cưới (báo Người Việt)

Cái ngày đám cưới của tôi, chàng từ Washington, D.C. bay xuống, cùng một vài văn hữu khác. Không những có mặt, BBT còn là một trong mấy người MCs, mỗi người một phong cách, làm cho dịp vui ấy “ồn ào” và sinh động hơn. Tôi đã có được bao bạn bè và thân hữu văn học bên cạnh trong cái ngày “bị phát vãng” ấy (a transport: người bị đầy, bị phát vãng (nghĩa lịch sử, pháp lý) / a transport of delight: niềm hạnh phúc, vui thích). Nhiều bạn hữu vẫn còn nhớ chàng trong dịp ấy. Bao nhiêu khuôn mặt thân tình mà giờ đây nhiều người trong đó đã trở thành những “người muôn năm cũ”. Mai Thảo, Phạm Duy, Võ Phiến, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mộng Giác… Và, bây giờ, cả “chàng” nữa.

Nghịch thì như thế, nhưng khi để lòng nhớ về một cơn mộng cũ, về một sợi tóc còn bay trong bóng chiều của quá khứ, lòng của kẻ tài tử kia cũng trở nên thiết tha, đằm thắm:

Những ngày Chủ nhật em đi đâu?
Ngày treo trên một chiếc ly sầu
Hàng cây lá mục nghiêng mình ngóng
Mây cũng chờ em, em ở đâu?

Hôm nay Chủ nhật, em đi đâu?

Chiều loang một chút nắng không mầu
Gió ơi, giữ hộ mùi hương cũ
Thuở những cầu vai chưa xa nhau (…)

(K. khúc 1)

Và, chưa chi ta đã thấy nhau trong ngàn dặm quan san. Tình yêu, tự nó, là sự nhớ nhung. Người ta nhớ nhau ngay cả khi còn đang tay trong tay, đang lúc còn đang bên nhau hạnh phúc. Có lẽ chính vì thế nên Thanh Tâm Tuyền đã viết trong một bài thơ nổi tiếng của mình: “Anh(…) ôm em trong tay / Mà đã nhớ em ngày sắp tới”. Tình yêu là thế. Luôn là nơi chốn để trông mong, hướng về. Trái tim của Bùi Bảo Trúc cũng rung theo nhịp dao động ấy:

Lỡ mai tóc có thay mầu
Nét son có nhạt, môi sầu có phai
Lỡ mai có lạnh trên vai
Lòng vùi dưới tuyết, hồn ngoài trường giang
Lỡ mai bóng đã ngút ngàn
Dấu chim xưa cũng sẽ tan cuối đường
Lỡ mai người có quan san
Nhớ xanh bia đá, chờ vàng lũng sâu
Lỡ mai sông sẽ qua cầu
Có trong đáy nước, cơn đau một đời

(K. khúc 3, tháng 12.1987)

Sau này, vào năm 2000, khi cố gắng ra được tập “Tặng Vật của Tình Nhân”, dịch “The Lover’s Gift” của Rabindranath Tagore, trái tim chàng, dù qua thơ của người thi sĩ đáng yêu xứ Bengal, vẫn đập một nhịp thi thiết cũ:

Trái cây trong vườn mọc chi chít, chen chúc nhau trên cành, vươn mình ra phía ánh sáng trong nỗi đớn đau tràn đầy.

Hãy bước những bước chân kiêu kỳ vào vườn cây, nữ hoàng của ta ơi, hãy ngồi xuống dưới bóng mát, hãy hái những trái chín trên cành, và hãy để chúng dâng lên đôi môi của người vị ngọt tuyệt vời.

Trong vườn của ta, những con bướm tung đôi cánh trong ánh nắng, những chiếc lá rung mình, và hoa trái rộn ràng chờ đón giây phút hoàn thành.

(Đoạn thơ số III)

(The fruits come in crowds into my orchard, they jostle each other. They surge up in the light in an anguish of fullness.

Proudly step into my orchard, my queen, sit there in the shade, pluck the ripe fruits from their stems, and let them yield, to the utmost, their burden of sweetness at your lips.

In my orchard the butterflies shake their wings in the sun, the leaves tremble, the fruits clamour to come to completion.)

Và, trong một đoản khúc khác, giọng thơ vẫn thiết tha như thế:

Chỉ còn sót lại một chút này, còn bao nhiêu tôi đã phung phí hết trong một mùa hè đầy phóng đãng. Chỉ còn đủ để phổ vào khúc ca hát cho em nghe, để đan vào vòng hoa dịu dàng ôm lấy cổ tay em, để đeo trên tai em như một viên hồng ngọc, như một lời thầm thì bẽn lẽn, để liều lĩnh trong canh bạc chiều đã cầm chắc phần thua.

Thuyền của tôi quá mong manh, e không vượt nổi những con sóng dữ của trận mưa. Nhưng nếu em nhẹ nhàng bước xuống, tôi sẽ chèo đưa em men theo những nơi trú ẩn bên bờ, ở đó, làn nước đầy bóng tối gợn lên những con sóng nhỏ như giấc ngủ đầy mộng mị, và tiếng gù của những con chim câu đậu trên những cành lá rủ la đà cũng làm cho bóng trưa hóa thành ảo não. Lúc cuối ngày, tôi sẽ hái một bông hoa súng đẫm nước, cài lên tóc em rồi mới ra đi.

(Đoạn thơ số XII)

(It is little that remains now, the rest was spent in one careless summer. It is just enough to put in a song and sing to you; to weave in a flower-chain gently clasping your wrist; to hang in your ear like a round pink pearl, like a blushing whisper; to risk in a game one evening and utterly lose.

My boat is a frail small thing, not fit for crossing wild waves in the rain. If you but lightly step on it I shall gently row you by the shelters of the shore, where the dark water in ripples is like a dream-ruffled sleep; where the dove’s cooing from the drooping branches makes the noon-day shadows plaintive. At the day’s end, when you are tired, I shall pluck a dripping lily to put in your hair and take my leave.)

clip_image005

Sách, hoa và tranh (hình tư liệu riêng)

Bùi Bảo Trúc dịch Tagore rất thơ mộng. Anh như đưa ta vào lòng những con ngõ nhỏ, những bến nước, những vườn cây xứ Bengal. Và mùi thơm của hoa lá, tiếng những con chim câu gù nhau. Hai người yêu đứng bên nhau dưới tàng cây rậm mát, xanh sẫm màu lá cây. Tiếng nước chảy của những lòng sông, khe suối… Tôi đã có dịp viết ít lời giới thiệu cho anh trong tập sách này:

“Những lời thơ, tâm tình và hình ảnh của Tagore mang đầy tính nhân loại. Không gian thơ của ông bao la bát ngát, trong đó có những đàn chim bay ra từ tổ trời làm ngất ngây những đôi cánh đập của tình yêu, làm tươi mát thêm những buổi bình minh còn vương đầy những giọt sương mai của xuân thắm. Tình yêu trong thơ ông là tình yêu đầy tha thiết, thủy chung, với những lời nói đắm đuối dịu dàng, với những cặp mắt luôn âm thầm hướng vọng, và với những trái tim lặng lẽ đợi chờ, phập phồng một cung điệu yêu thương. Nó giống như hình ảnh của những đêm tối có sao canh chừng; của một con thuyền kiên nhẫn nằm chờ trong tối, nơi một bến rêu, tiếng bước chân của người mang bình minh đến. Thời gian của Tagore là thời gian vĩnh hằng. Và, cũng thế, thơ của ông là những tiếng nói mang những âm điệu vĩnh hằng. Chúng vỗ mãi trong trái tim ta những nhịp đập yêu thương tha thiết cho đời, cho người, và cho những ước vọng còn tồn tại mãi với thời gian.

Bản dịch của Bùi Bảo Trúc có được những đoản khúc mà những bản dịch trước đây không có. Đây là một bản dịch tài hoa, cho người đọc đến gần được với không gian thơ của Tagore. Ở đó, có những khung cảnh mộc mạc đằm thắm của quê hương Tagore và có những bóng dáng đi về của những người nam, người nữ cùng với những lời nói yêu đương thầm thì dịu dàng tha thiết của họ. Với bản dịch Việt ngữ này, Bùi Bảo Trúc cho thấy, hình như, đó cũng có lẽ chính là bóng dáng những kỷ niệm hay bóng dáng của những giấc mơ cũ càng mà mỗi một chúng ta vẫn hằng ôm ấp…”

3.

Bùi Bảo Trúc yêu thích ngôn ngữ. Biết tôi cũng yêu mê tự điển và từ điển, cũng như những cuốn sách bàn về ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ, anh hay chia sẻ với tôi những ý kiến của William Lewis Safire, một học giả Mỹ, cũng một nhà bỉnh bút, một ký mục gia sâu sắc về ngôn ngữ và chính trị của tờ New York Times, và là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “On Language” (“Về Ngôn Ngữ”). Safire cũng là một nhà báo và người viết diễn văn cho các tổng thống. Vốn thông minh, có khiếu và yêu thích ngôn ngữ, lại thích đọc và tự tìm hiểu thêm về ngôn ngữ qua các tác giả nổi tiếng của Mỹ về phương diện này như William L. Safire và Richard Lederer, nên, tuy không được đào tạo trường ốc trong lĩnh vực này, Bùi Bảo Trúc đã cho chúng ta thấy anh là một người có cái nhìn sắc sảo và tài sử dụng ngôn ngữ đến độ “phù thủy”, ít nhất là trong lĩnh vực báo chí.

Tôi nhớ có lần anh than phiền với tôi về cụm từ “ngân hàng tinh trùng”, dịch từ cụm “sperm bank” trong tiếng Mỹ, của làng báo chí Việt. Tôi thấy anh rõ ràng có lý. Từ “bank” trong cụm này không thể nào dịch thành “ngân hàng” được. “Ngân” là bạc; “ngân hàng” là, trong một nghĩa chung, nơi có những giao dịch về tiền bạc, rút tiền, gửi tiền, v.v. “Ngân hàng tinh trùng” đúng là chối tai và không đúng về mặt ngữ nghĩa. Vốn là người đã làm việc tại đài VOA, có một số đồng nghiệp người Hoa, anh cho biết là những đồng nghiệp ấy dịch cụm từ này từ tiếng Anh thành “tinh tử khố”. “Khố” ở đây, tôi hiểu, là theo nghĩa của từ “khố” như trong “ngân khố” chẳng hạn. Nó là một cái kho, là nơi lưu giữ một thứ gì đó. Trong từ “ngân khố” thì đó là nơi giữ tiền, giữ bạc, mở rộng ra là giữ cả vàng nữa. Cụm “tinh tử khố”, dù sao, vẫn không thấy được dùng trong báo chí Việt. Có lẽ vì đa phần người Việt, kể cả những người làm báo hay viết lách, đều không quen với cách dùng này. “Ngân hàng” thì được; “phần tử” thì được; “tinh trùng” thì được. Nhưng… “tinh tử khố”!!! Đặc biệt, từ “khố”, ngoài trường hợp được dùng trong “ngân khố”, nghe ra dễ đưa người ta đến những hàm nghĩa “trần tục”. Cái hàm nghĩa phát xuất từ cái nghĩa trong tiếng Nôm, tiếng thuần Việt của nó. Khổ thế! Nhưng “tinh tử khố”, theo tôi, vẫn là một cách dịch danh ngữ “sperm bank” chính xác nhất.

Nói đến “tinh tử”, có lần BBT khoe với tôi là anh đã tìm được cách dịch cụm “coitus interruptus”, một cụm từ tiếng Latin để chỉ một phương pháp thông dụng và… không tốn tiền trong chuyện ngừa thai; tóm lại là chuyện “rút lui có trật tự” trước khi hoàn tất “nhiệm vụ rất khả thi” trong chuyện chăn gối, chuyện truyền/trồng tử gieo tôn. Anh bảo là anh sẽ dịch cụm này thành “khóc ngoài quan ải”. Tôi bảo, ừ, hãy tiếc thương cho những tinh cầu rơi rụng!

Lại có lần Bùi Bảo Trúc than với tôi về cách dùng cụm“tái bầu” (có nghĩa là được bầu lại lần nữa) của nhiều người làm trong lĩnh vực truyền thông. Kể cả một số người có tiếng là chuyên nghiệp. Anh bảo “tái” là tiếng Hán Việt, còn “bầu” là tiếng thuần Việt. Đâu có thể trộn lộn tứ tung như vậy được! Tôi đồng quan điểm với anh. Dĩ nhiên có những từ Hán-Nôm đề huề đã được sử dụng từ lâu đời, và chúng trở thành quen thuộc và được sử dụng tự nhiên trong tiếng Việt. Nhưng “tái bầu” không nằm trong trường hợp đó. Nếu muốn tạo tân từ, ta phải nắm vững vấn đề từ pháp, và biết rõ về những cách thức tạo từ. Không thể “sáng tạo” bừa bãi. Đối với BBT, “tái bầu” chỉ làm anh nghĩ đến hoặc là “phở tái”, hoặc là “có bầu, có thai thêm một lần nữa”!

Trong tiếng Hoa, “bầu” là “bảo” (). “Bảo” còn có nghĩa là “giữ”, “gánh vác”, “nhận lấy trách nhiệm”. Như “tửu bảo” () là “kẻ làm thuê cho hàng rượu”. “Bầu cử” của mình được gọi là “bảo cử” () trong tiếng Hán. Tôi không chắc, để diễn ý “được bầu lại”, người Hoa có dùng từ “tái bảo” hay không, cho dù là người ta đã có “tái bút”, “tái bản”, “tái sinh”, “tái chế”, “tái phát”, thậm chí “tái bảo hiểm”, “tái bảo lãnh”, v.v. Nhưng, trong trường hợp… “tái bầu” này, tôi nghĩ có lẽ người Việt chúng ta nên dùng một nhóm từ giản dị như “được bầu lại”, hay “được tái tín nhiệm”, “được tái đắc cử”, v.v… Dùng “tái bầu” thì nghe sợ thật!

Còn nhiều trường hợp tương tự như thế nữa. Về vấn đề dùng Hán-Nôm hoặc Nôm-Hán loạn xạ. “Út nữ” cũng nằm trong trường hợp như thế. Dù cho có là “con gái út” đi nữa, thì “út” cũng không phải là một từ Hán-Việt để đi với “nữ”. Vẫn phải gọi là “thứ nữ” thôi. Nhưng bây giờ thì “út nữ” lan tràn trên các trang cáo phó. Biết đâu theo thời gian, khoảng vài chục năm nữa chẳng hạn, nó sẽ trở nên một từ có thể được đa số chấp nhận!

Bùi Bảo Trúc cũng đã khoe với tôi về cách dịch những từ “Pepsi Cola” và “Coca Cola”, những biểu hiệu nổi tiếng của văn hóa Mỹ. Anh bảo là, theo mấy đồng nghiệp người Hoa của anh trong Ban Hoa ngữ tại đài VOA, thì hai từ này được dịch, theo thứ tự, là “Bách-Sự-Khả-Lạc”“Khả-Khẩu-Khả-Lạc”. Có nghĩa là “Trăm sự có thể (đưa đến) hạnh phúc” và “Vừa có thể đã miệng, vừa có thể hạnh phúc” (hay, “Trăm sự đã đời” và “Vừa ngon miệng vừa đã đời”). Hay thật! Vừa dịch được âm, vừa dịch (chế) được nghĩa.

Tôi đã có cơ hội kiểm soát lại điều này, và, đúng thế, khi đưa loại nước ngọt có gas này vào nước Tàu, những người của Coca Cola đã cho dịch “Coca Cola” thành 可口可乐,Ke kou ke le”, có nghĩa là “Tasty Fun” hay “Delicious tasty happiness”. Đúng là “khả khẩu khả lạc” rồi còn gì! Còn “Pepsi Cola” thì được dịch thành 百事可乐,“Bai Shi Ke Le” , có nghĩa là “Everything laughable”, hay “100 ways to good luck”. Đúng là “bách sự khả lạc” rồi! Dù sao, tìm hiểu tiếp, tôi thấy là Pepsi đã bị “hố” trong vụ quảng cáo để đưa Pepsi vào lục địa Trung Hoa. Họ có cả một chiến dịch quảng cáo Pepsi cho giới trẻ Trung Hoa. Và họ có những slogans như “Pepsi generation”, rồi “Come alive with Pepsi.” và “Helps ‘em come alive!”. Trong sự dịch sang tiếng Tàu những slogans này, hãng Pepsi, trong khung cảnh xuyên-văn hóa, một cách vô tình đã làm cho người Tàu hiểu sai lạc ý nghĩa của chuyện “come alive” này. Họ hiểu nó thành “Come alive out of the grave with Pepsi.”, hoặc “Pepsi will bring your ancestors back from the dead.”, hoặc “Bring dead ancestors back from heaven.” Pepsi sẽ … đem tổ tiên bạn về từ cõi chết. (!) Thật ra, Coca Cola cũng không thoát khỏi cái bẫy “dịch” để đưa hàng của mình vào lục địa Trung Hoa thuở ban đầu. Người của họ (hay chủ những quán ăn, những nhà hàng tại địa phương) đã dịch theo lối phiên âm Coca Cola ra thành “Keke Kenla”, dùng lối viết Trung Quốc, khiến nó trở nên có một cái nghĩa quái dị là “Tadpoles bite wax” (“Nòng nọc cắn sáp”) (!) Cơ khổ! Sau đó, hết sức “phấn đấu” để sửa sai, họ mới đi đến “Ke kou ke le” (“Khả khẩu khả lạc”). Và Coca Cola trở nên thành công vượt mức.

Cũng thế, khi KFC đưa món ăn của mình vào Trung Hoa, họ đã để cho cái slogan “Finger-licking good” [Ngon đến chịu không nổi, phải liếm láp, phải mút ngón tay—còn dính mỡ và thịt gà rán—cho đã, cho đỡ phí!] của họ bị dịch sang tiếng Tàu một cách sai lầm thành “Eat your fingers off!” [“Hãy ăn (tươi nuốt sống) mấy ngón tay của bạn!”]. Còn hãng Coors khi mang cái slogan “Turn It Loose” (“Mở Nó Ra”, hay “Hãy thư giãn, thoải mái”) sang Tây-ban-nha, họ quên đi vấn đề tiếng lóng. Thế là chiến dịch quảng cáo biến cái slogan này thành “Bị khốn khổ vì tiêu chảy” (“Suffer from Diarrhea”) (!). Rồi chuyện của công ty sữa American Dairy Association khi đưa cái slogan rất thành công của họ là “Got Milk?” sang Mexico. Thật khốn khổ cho họ, cái slogan này được dịch ra thành “Are You Lactating?” (“Bạn Có Đang Cho Con Bú Không?”, hay “Bạn Có Đang Vắt Sữa (để cho con bú) Không?”). Trong văn hóa Mỹ, tại nhiều công sở có “Lactation room” (hay “Lactorium”) là một phòng riêng để các phụ nữ đang trong giai đoạn cho con bú có thể vào và sử dụng thiết bị bơm sữa để tạo sữa và lưu giữ trong tủ lạnh cho con mình.

Ôi, ngôn ngữ! Chừng nào ngôn ngữ còn thì chuyện “mistranslation” và “misunderstanding” như thế này sẽ tiếp tục còn làm cho con người dở khóc dở cười như thế.

4.

Có lần, giữa đường, trong khung cảnh khá náo nhiệt của chốn Bolsa, một nơi vừa ấm áp vừa ồn ào, đầy tình thân nồng nàn của người Việt nhưng đôi khi cũng có những xáo trộn nho nhỏ trong chính cuộc sống chung ấy (như bất cứ ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào có một cuộc sống chung), đang sửa soạn quanh xe gần một ngã tư, bất chợt thấy hai vợ chồng tôi cũng đang quành xe gần đó, Bùi Bảo Trúc đưa xe lại gần sát chúng tôi, cười và ra hiệu. Hai bên đều hạ cửa kính xe xuống. Anh nói nhanh là nếu không bận, anh mời ghé nhà anh chơi một lúc. Anh cho biết mình vừa có được một “trú sở”, một căn nhà nhỏ ngay trên đường Bushard, giữa trung tâm quận Cam, không xa nơi nhà văn Mai Thảo sống trước kia là bao.

Thế là chúng tôi có một dịp đầm ấm, dù chỉ trong vòng trên dưới nửa tiếng đồng hồ, tại “biệt thự” của anh. Đó chỉ là một căn hộ khá nhỏ, nhưng trong một chung cư xinh xắn, yên tĩnh. Ở đây, anh có thể dễ dàng tìm đường xuống “phố thị” với những hàng quán, những cơ sở báo chí tiếng Việt, và đầy ắp những cửa hàng, những sinh hoạt của người Việt gần ngay đó. “Nhà tôi” có lúc đứng loanh quanh ở bên bếp, nghe anh nói chuyện. Anh cười bảo, “Tôi hay xuống chỗ bếp này, nhưng chỉ là để nấu mì gói thôi. Tôi không biết làm bếp!” Thật khổ cho Bùi Bảo Trúc, bạn tôi! Dù sao, anh sống một đời sống ngăn nắp, có kỷ luật. Ngoài một kệ sách nhỏ với một số sách của bạn bè, thân hữu, những quyển mà anh thích, ít quyển sách ngoại ngữ và mấy cuốn tự điển và từ điển, có một cái bàn nhỏ trên đặt một cái laptop. Bên cạnh là một hệ thống nghe nhạc vừa phải. Và, nếu tôi nhớ không nhầm, anh còn có cả một cái máy quay đĩa, loại 45 vòng, thuở xưa.

Anh vui vẻ giới thiệu nhà cửa và nói với chúng tôi về những sinh hoạt cũng như thời khóa biểu làm việc của anh trong giai đoạn ấy. Anh làm cho vài cơ quan truyền thông, viết lách, thu âm, thu hình cho những chương trình của mình. Anh bảo một tuần anh phải chạy lên một studio gần Los Angeles một, hai lần để làm việc ở trên đó. Còn phần lớn thì giờ anh “cư ngụ” và “lăn lộn” tại đây, anh đưa tay “quét” một vòng căn hộ nhỏ. Chúng tôi quý anh về sự giản dị, ngăn nắp và kỷ luật mà anh có. Và sự thân tình với bạn bè nữa. Trước khi để chúng tôi đi, anh tặng tôi hai trong ba thứ rất nguy hiểm mà Tú Xương đã nhắc đến trong một bài thơ để đời nổi tiếng của mình: “Một trà, một rượu, một đàn bà / Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta…” Đó là một bộ tách trà cổ, bằng sành, có cả ấm, khay và bốn cái chung nhỏ. Và một chai rượu Pinot Noir, đựng trong hộp gỗ cẩn thận. Chàng không dám cho tôi chai Remy Martin hay Hennessy XO, là những thứ rượu mạnh mà chàng và nhà văn Mai Thảo yêu thích, vì biết tôi không chia sẻ “niềm yêu” ấy. Nhưng chàng cũng nói là mình rất thích hương vị của Pinot Noir và Passion Merlot, những loại rượu vang đỏ được làm bằng các loài nho “quí tộc”, với hương vị nồng nàn và độ say đằm quyến rũ. Như đã nói, chai rượu mà chàng tặng được để trong một hộp đứng dài dùng để đựng rượu, bằng gỗ, của Pháp, rất cổ và đẹp, có quai bằng đồng để cầm, có khóa đồng để đóng lại, và được đánh verni, trang trí với hình vẽ Khải Hoàn Môn của Paris, cùng hình một chai rượu Pháp. Hoa văn trang trí có những chữ Vin de Bordeaux / Paris 1921 / Arc de Triomphe. Chàng nói, “Tặng ông cả rượu lẫn hộp đựng đấy nhé! Có ‘quần áo’ đàng hoàng.” Tôi cám ơn anh và nói nhỏ, “Hai thứ đầu của Tú Xương đây rồi. Thế còn “món” thứ ba đâu?” Rất nhậy, chàng nói ngay, cũng nhỏ và chỉ vừa đủ nghe, “À, cái đó thì tôi không dám ‘mời’ ông!”

Trong khoảng năm, bảy năm trở lại đây, ngoài việc tiếp tục viết loạt bài Thư Gửi Bạn Ta, anh còn có chương trình “Ngày Này Năm Xưa”, “Anh Ngữ trong đời sống” trên đài Little Saigon Radio và Hồn Việt TV, phát thanh, phát hình đủ mọi nơi. Cũng trên Little Saigon Radio, anh còn có chương trình giới thiệu nhạc ngoại quốc nữa.

Các bài viết của Bùi Bảo Trúc trong loạt Thư Gửi Bạn Ta, như tôi đã nói phớt qua ở trên, đã là một chất men quyến rũ rất nhiều người đọc. Người ta đọc nó vì cái chất dí dỏm, hóm hỉnh, đôi khi châm biếm chua cay, sâu sắc về đủ mọi loại đề tài trong cuộc sống con người. Đặc biệt, nó hay xoay quanh các vấn đề về phái tính và chính trị. Nó bay nhảy với các dữ kiện, các ý tưởng, các liên tưởng. Và nó “tung tẩy” với ngôn ngữ. Nhưng luôn luôn đánh đúng mục tiêu. Nó lại gợi cho người ta những hoài niệm, những nostagies về những hình bóng cũ, đặc biệt là những nỗi hoài nhớ quê hương, về một quá khứ “vàng son tơi tả” nhưng cứ dịu dàng tha thiết mãi trong trái tim người.

Có thể lấy đoạn văn sau đây của nhà văn Ngự Thuyết, viết về những bài tạp bút của Thư Gửi Bạn Ta, để thấy được những hình ảnh và tình cảm mà Bùi Bảo Trúc đã gợi lên trong chữ nghĩa của mình:

“(…) Hà Nội thời anh còn thơ ấu, mài đũng quần trên ghế nhà trường Tiểu Học, nhớ lớp học bé nhỏ thì ít mà nhớ cây me, cây sấu, cây hoa phượng, con ve mùa hè, và Hồ Tây xa xôi, thì nhiều. Di cư vào Nam, học Trung Học Chu Văn An, đã có trí khôn, biết bao nhiêu kỷ niệm theo anh suốt đời. Hàng xóm, láng giềng, thầy, bạn, cái giếng, kệ sách, thang gác gỗ ọp ẹp bước lên kêu răng rắc, góc phố, cây trứng cá nở hoa trắng, xe bò viên cạnh rạp xi nê, khô bò, nước mía ở các ngã tư, ngã sáu, đu đủ ướp đá bào, khóm miếng Tân An …, và nhất là những hôm trốn học tay ôm sách, mộng ước đầy hồn, đi lang thang trên những lề đường cũ phủ lá me non, hay đạp xe đạp lượn lui lượn tới trước cổng trường con gái, hoặc chui vào những rạp chiếu bóng thường trực Lê Lợi, Vĩnh Lợi, Đại Đồng, miệng cạp bánh mì, mắt say sưa đuổi theo những chân trời xa lạ.”

Bùi Bảo Trúc là như thế.

“Ngày Này Năm Xưa” được anh dùng để kể lại các sự kiện xảy ra trong lịch sử, vào đúng cái ngày chương trình được phát thanh. Người ta nói là anh có một kiến thức uyên bác. Có lẽ. Nhưng, trong cảm nhận của tôi, cái uyên bác ấy nằm ở trí nhớ của anh, một trí nhớ khá “siêu quần”, ở cái cách anh biết tìm kiếm tài liệu, và, quan trọng hơn, ở lòng yêu thích chính sự tìm kiếm ấy. Cách làm “Ngày Này Năm Xưa” không lạ, và ta cũng có thể tự lục tìm những tài liệu trên Net, trên Google để biết được những điều ấy. Nhưng cái làm cho thính giả theo dõi chính là lối dẫn dắt câu chuyện của anh. Duyên dáng, lịch thiệp, pha với chút nghịch ngợm. Và đầy thân tình. Anh tạo được một cầu nối gần gũi với người nghe. Tạo nên một từ trường đầy lôi cuốn. Giọng nói của anh là một giọng nói ấm áp, trầm và dịu, rất “Bắc kỳ”. Có người nói đó là một giọng nói “Trời cho”. Cái giọng nói ấy nó cuốn hút và tạo sự thân mật. Bùi Bảo Trúc được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt là các phụ nữ, có lẽ cũng chính là do, ngoài những tài năng riêng của anh, giọng nói này.

Chương trình “Anh Ngữ trong đời sống” đưa lại những kiến thức khá căn bản, đôi khi tinh tế, về cách sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống tại Mỹ. Anh có khả năng từ những từ ngữ, những cách nói trong Anh ngữ, giới thiệu cho người nghe một số nét đặc thù của văn hóa Anh Mỹ, giúp cho những người bình thường thấy được cái tế nhị và phong phú của ngôn ngữ.

Và chương trình giới thiệu nhạc ngoại quốc của anh cũng thật tuyệt. Anh giới thiệu đủ loại nhạc Anh, Pháp, Mỹ, đặc biệt những bản nhạc của thập niên ’60 tại Hoa Kỳ và Pháp. Cách anh dẫn dụ, giới thiệu những bản nhạc. “Hương vị” của những bản nhạc ấy. Ca từ và ngôn ngữ thời đó. Vân vân. Tất cả làm nên một cái nền hoài nhớ, một sự tưởng tiếc vàng son. Một thời. Một đời. Nó làm người ta nhớ lại chính cái tuổi trẻ của mình. Cái nao nức mình. Quả tim mình khi mới lớn. Tình yêu đầu đời. Đường phố. Bạn bè. Nụ hôn đầu. Và tóc ta lúc ấy còn xanh quá, bay bay theo gió. Mặt trời trên cao và hoa lá ở ngay trên đầu. Và mênh mang gió hát. Nó làm người ta nhớ lại tất cả mọi sự.

Cũng phải nói đến những người cùng anh lèo lái các chương trình. Đó là các nữ xướng ngôn viên của đài Little Saigon. Mỗi người một vẻ. Mỗi người một phong cách, một giọng nói. Tất cả đã cùng với Bùi Bảo Trúc làm nên những chương trình thật đáng yêu. Tôi không ngạc nhiên khi nghe nhiều thính giả, đủ mọi lớp tuổi, cả nam và nữ, gọi vào đài tưởng tiếc anh. Rất nhiều người đã không giữ được xúc động. Họ nghẹn ngào, tức tưởi, hay òa khóc, cùng với những xướng ngôn viên, khi nhắc lại những điều anh đã làm được trong các vai trò, các chương trình mà anh thực hiện trên đài. Anh đã đem lại nhiều kiến thức hữu ích, nhiều niềm vui, cũng như một chút hạnh phúc nhỏ giữa đời thường cho rất nhiều người. Mỗi ngày. Và trong bao nhiêu năm trời như thế. Anh đã không thể nói tiếp được một câu nói của mình trong chương trình cuối cùng của anh. Vì định mệnh đột nhiên đã đến. Đó cũng là ngày cuối cùng trong cuộc đời anh. Sự gắn bó của Bùi Bảo Trúc với khán, thính giả và độc giả, qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt qua truyền thanh và truyền hình, đã làm cho nhiều người thương tiếc anh. Sự tận tụy trong công việc của Bùi Bảo Trúc, cho đến ngày cuối đời, đã để lại một ấn tượng thiết tha trong lòng họ.

5.

“L’Homme est une passion inutile”. Con người là một đam mê vô ích. J. Paul Sartre đã nói thế. Và nếu đúng như lời Sartre nói, để giản lược hóa phát biểu của triết gia này một chút, tất cả chúng ta đều sống với những đam mê. Mỗi chúng ta đều là một khối đam mê lớn. Vô ích hay không, đó là điều có thể còn được, còn phải tiếp tục tranh luận.

Bùi Bảo Trúc đã sống với những đam mê của mình. Mà đã là đam mê thì thường cực đoan. Anh đã sống nhiều lúc cực đoan như thế. Trong không ít trường hợp. Những cực đoan có khi đưa đến những va chạm xích mích, nhỏ hay lớn, với người này hoặc người nọ, lúc này hay lúc khác. Anh sống với những xác tín của mình, có thể có những lúc chủ quan. Nhưng anh đã sống thiết tha và cương quyết.

Tính là mệnh. Amor fati. Như tính của Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều chính là định mệnh của nàng. Có những lúc cũng mệt mỏi, BBT đã nói với tôi, “Nhiều khi, sáng dậy, tôi cảm thấy rất nản, muốn buông xuôi, buông bỏ tất cả. Nhưng nghĩ mình còn được thức dậy, nhìn mặt trời lên mỗi ngày, gặp lại bạn bè, làm được một số việc mình thích, tôi lại ngồi dậy mặc quần áo, rửa mặt cạo râu, để bước vào một ngày mới. Mình phải tập kiên trì thôi.”

Tôi nghĩ, như Nietzsche đã trình bày về cuộc “quy hồi vĩnh cửu”(eternal recurrence), BBT bạn tôi hẳn sẽ lại sống như thế, trong mỗi một chi tiết sống của mình, nếu anh có dịp trở lại trần gian trong cuộc “quy hồi vĩnh cửu”, “quy hồi cố quận” kia. Anh chấp nhận cái phận của mình. Và vui vẻ, kiên trì sống với nó. Cho đến hết đời.

Death, be not proud, though some have called thee
Mighty and dreadful, for thou art not so;
For those whom thou think’st thou dost overthrow
Die not, poor Death, nor yet canst thou kill me. (…)

(Hỡi Thần Chết, đừng hãnh diện làm gì, cho dù có những kẻ đã gọi người
Là uy dũng và đáng sợ, vì người chẳng hề là thế;
Bởi lẽ những kẻ mà người nghĩ là đã vật ngã, lật đổ
Chẳng hề chết đi, tội nghiệp cho Thần Chết, và người cũng chẳng thể giết được ta (…)

Đó là những câu thơ mở đầu trong bài sonnet thứ X của John Donne, còn được gọi là bài “Death, be not proud” vì câu thơ mở đầu của nó. Tôi nghĩ, nếu có gặp vị thần này, chàng Trúc sẽ cười và nói, “Hey dude, be not proud…” (“Này cái gã kia, mi đừng phởn chí…”).

Trong cái ma-trận (matrix), mà không phải là mê-hồn-trận, của ngôn ngữ và cuộc đời, Bùi Bảo Trúc đã sống hết tâm hồn và thân xác mình. Anh đã gieo, trồng. Và đã hái, gặt. A, mọi sự tân toan trong đời sống này thì chắc cũng như hương vị của một ly Merlot, một ly Pinot Noir thôi. Đắng. Ngọt. Cay. Tê. Nồng. Và đượm. Có đủ cả. Phải không?

Bạn ta, bây giờ, hãy ra đi thanh thản. Với một nụ cười.

“Xin chào nhau giữa con đường. Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau” (B.G.)

Hẹn một ngày “quy hồi cố quận”.

Bùi Vĩnh Phúc

Ấm Lạnh Của Cuộc Đời—Nguyễn Thị Hải Hà

Cơn bão Sandy đến vào đêm thứ Hai. Hai cây anh đào bên cạnh nhà của Quê bị trốc gốc nằm chắn ngang đường dẫn vào nhà để xe. Cây sồi gần trăm tuổi trước nhà ông Jack cũng bị đột quị, tàng lá rậm rề của nó khi trườn ngang đường đã lôi theo máy biến điện, làm trụ điện toác làm hai. Tất cả mọi thứ, dây điện trụ điện máy biến điện đều nằm kềnh trên mặt đất. Thế thì phải còn lâu lắm mới trở lại bình thường. Nhà của Quê cũng như tất cả mọi người chung quanh đều bị mất điện, không sưởi, không có nước nóng lẫn nước lạnh.

sandy-storm-surge-damage-njMột nơi cơn bão Sandy vừa đi qua

Sau cơn bão trời rất đẹp, ban ngày có nắng, khá ấm so với khí hậu mùa thu của New Jersey . Nhiệt độ trong nhà từ giảm từ từ. Đến ngày thứ Năm, trong nhà chỉ còn 45 độ F, bằng với nhiệt độ ngoài trời. Ban ngày Quê ra sân dọn dẹp cành cây, vận động và phơi nắng cho người ấm lên. Buổi tối Quê mặc hai lớp vớ, hai lớp quần, hai lớp áo mỏng cùng với áo len thật dày, bên ngoài mặc thêm cái áo khoác nhung lót nỉ. Áo này Quê thường mặc để xúc tuyết hay làm việc ngoài trời. Cũng may là hồi mùa hè Quê thấy áo mỏng dài tay bán hạ giá ở Old Navy nên mua luôn mấy cái. Chống lạnh cần mặc nhiều lớp nếu áo nào cũng dày quá sẽ không xoay trở được.

Ở Mỹ đã lâu mà Quê vẫn không quen chịu lạnh. Cái lạnh như cắn cấu vào da thịt có khi như chui ra từ trong xương. Con mèo Nora chui vào mền ngủ chung với Quê. Chị co người như con tôm và Nora nằm ngay vào khoảng trống giữa ngực và đầu gối của chị. Mỗi khi chị trở mình nhích ra xa một chút con mèo ngay lập tức bám theo chị. Người và vật cố tìm chút hơi ấm của nhau nhưng nó bé bỏng quá không mang đủ hơi ấm cho chị. Quê ngủ luôn trên ghế sô pha ở phòng khách vì ban ngày có nắng vào, phòng khách ấm hơn phòng ngủ của chị. Quê không hiểu làm cách nào mà những người sống lang thang không nhà chịu được cái lạnh khi ngủ ngoài trời chỉ che thân bằng cái thùng giấy carton. Nhà có lò sưởi nhưng không có củi vì chồng Quê không chịu dùng củi phòng hờ khi mất điện. Anh đưa ra đủ thứ lý do nào là khói, là khí độc, là hơi ấm đốt bằng củi chẳng thấm vào đâu. Quê tin chồng hết mực. Lời anh nói y như vua phán, chị răm rắp tin theo. Chồng chị cẩn thận chu đáo làm gì cũng tính toán suy nghĩ cặn kẽ. Mấy chục năm chị vâng lời chồng mãi thành thói quen. Mọi quyết định của Quê là chờ quyết định của chồng.

Sáng thứ Năm, nắng đã lên nhưng Quê vẫn còn nằm quấn mền trong phòng khách chỗ có ánh nắng tràn vào để sưởi ấm. Ngọn nến vẫn còn cháy trong một cái bình thủy tinh cao. Loại nến này có thể tránh cháy nhà nhưng không đủ ánh sáng để đọc sách. Đêm qua dưới bóng nến leo lét Quê cố đọc sách nhưng chỉ một lúc là đã chịu thua. Làm thế nào nhà thơ Phạm Thiên Thư có thể “đêm về thắp nến làm thơ” hay người xưa có thể bắt đom đóm dùng thay cho ánh sáng. Mấy ông nhà văn nhà thơ chỉ giỏi vẽ chuyện.

Có tiếng gõ cửa, Quê nhỏm dậy. Đó là Lénine, anh hàng xóm.

– Hello! Quê nói.

– Hello! Chào bà! Tôi đến viếng xem bà có cần giúp gì không? Mọi chuyện vẫn bình thường chứ?

– Vâng, cám ơn ông. Bình yên cả. Chỉ hơi lạnh thôi. Nhiệt độ trong nhà chỉ có 45 độ. Thế ông sưởi ấm bằng cách nào?

Hỏi thế nhưng Quê biết là Lénine sưởi bằng củi vì chị thấy ống khói nhà ông tỏa khói. Đứng ở cửa Quê ngửi thấy mùi khói thật thơm. Đây là mùi đặc biệt của mùa Thu vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, khói lò sưởi thường làm cho Quê có cảm giác mơ mộng, như thưở nhỏ đọc truyện thần tiên và xem thiệp Giáng sinh có ảnh củi cháy sáng rực trong lò sưởi.

– Tôi sưởi bằng củi. Trận bão Irene năm ngoái cây ngã nhiều, lại toàn là gỗ cứng như anh đào và sồi, nên tôi để dành làm củi đốt lò sưởi, rất tiện lợi vào những lúc như thế này. Đêm qua nhà tôi ấm đến độ tôi phải mặc quần đùi.

Lénine ra ngước mặt lên trời lật hai lòng bàn tay để xuôi theo người diễn tả một người nằm ngửa như phơi nắng, thảnh thơi.

– Thế còn ăn uống thì ông làm sao? Quê hỏi. Tôi không nấu nướng gì cả, chỉ ăn bánh mì cũ với chuối hay cheese. Chị nói tiếp sau khi hỏi.

– Tôi có một cái nồi có quai những người cắm trại hay dùng. Tôi treo nó vào trong lò sưởi đốt bằng củi. Với cái nồi có quai này tôi có thể hâm nóng súp hộp hay

chiên một quả trứng, pha cà phê, v.v… Tuy có chuẩn bị nhưng không ngờ bị cúp điện lâu như thế nên tôi thiếu nước. Bà có dư nước không?

Trước khi cơn bão đến Quê có mua thêm 6 gallon nước uống dù trong nhà để xe vẫn còn 10 gallon.

– Tôi còn một ít nước để trong garage. Quê nói. Tôi có thể chia cho ông vài gallon.

– Cám ơn bà lắm, tôi sẽ hoàn tiền lại. Lénine nói.

– Chẳng đáng gì. Xin ông đừng bận tâm.

Lénine theo chị ra nhà để xe. Quê phải dùng cửa sau vì mất điện nên chị không thể mở cửa trước của nhà để xe. Muốn mở phải kéo sợi dây để thả chốt nhưng sợi dây cao quá chị không vói tới. Lénine đi theo, bảo rằng không muốn chị phải xách nặng. Quê đưa cho Lénine hai gallon nước. Qua cách anh ta đảo mắt nhìn chung quanh, có vẻ anh ta tò mò muốn biết cách sống của gia đình chị.

– Thế bà có đủ nước dùng cho cầu tiêu không?

Quê chỉ mấy thùng nước chị để phía sau nhà bên cạnh sàn gỗ và mấy cụm rau húng, rau kinh giới chị trồng trong hai thùng nhựa trắng. Lá sồi khô rơi vào trong nước làm nước biến thành màu nâu và có mùi khăm khắm của lá mục.

– Nếu ông cần ông có thể dùng nó.

Anh ta từ chối, có lẽ vì nước bẩn. Quê chợt đoán ra anh ta xin hai bình nước (chị mua để uống) để dội cầu tiêu. Khi ra về, anh ta nấn ná một chút và nói.

– Nếu bà có cần sưởi ấm xin mời bà đến nhà tôi. Tôi nói thật đấy. Đêm qua nhà tôi ấm đến độ tôi phải mặc quần đùi khi đi ngủ.

– Cám ơn ông.

Quê e ngại nếu nấn ná thêm một chút hắn ta dám nói là hắn ta luôn ngủ truồng.

– Đây là số điện thoại của tôi. Nếu bà cần xin cứ gọi hoặc cứ gõ cửa nhà tôi. Đừng ngại gì cả. Đêm nay nhiệt độ sẽ xuống thấp lắm đấy.

Hắn tên Lenn. Quê đặt cho hắn cái tên là Lénine vì trông hắn giống Lénine với cái mặt gãy khi nhìn nghiêng và cái đầu hói chỉ còn một vành tóc mỏng phía sau. Quê không có thiện cảm với hắn kể từ ngày bắt gặp hắn thổi lá khô từ nhà hắn vào đống lá khô nhà chị. Từ xa, mỗi lần nhìn thấy hắn Quê thường nghĩ đến một khúc phim quảng cáo trên Tivi, một phụ nữ trẻ đẹp buổi sáng nhìn ra sân nhìn thấy một người đàn ông đầu hói, bụng bự, mặc quần đùi ra nhặt báo. Ông ta một tay chống nạnh tay kia vẫy chào người đẹp, miệng cười đầy vẻ khả ố. Cô nàng thuê người xây một bức tường để không còn phải nhìn thấy ông láng giềng nữa.

Quê mỉm cười mỗi khi nhớ đến câu ca dao Gái có chồng như gông đeo cổ. Rất yêu chồng, yêu đến độ tự nguyện khuất phục chồng. Nhưng sự hiện diện của chồng luôn làm cho Quê cảm thấy tù túng bó buộc. Khi chồng bảo có việc phải đi Texas hai tuần, Quê vui vẻ chấp nhận, có phần nào khuyến khích. Vắng chồng, Quê thấy tự do thảnh thơi như đứa trẻ vắng cha mẹ trong phim Home Alone, ngủ thức dậy không cần phải gấp chăn trải giường, không cần phải lo bữa ăn hằng ngày. Hai tuần anh vắng nhà là một cái mini vacation cho chị. Nhiều khi chị thầm mong giá mà anh vắng nhà nhiều thêm nữa thì hay biết mấy.

Khổ một điều là mỗi khi anh đi vắng, đồ vật trong nhà không chịu vâng lời Quê. Đầu tiên là cái chốt bật điện trong phòng ngủ. Nó nổ nghe “tách” một tiếng, xẹt lửa, và không thể mở đèn được nữa. Cái chốt xả nước bồn tắm bỗng trở nên lặt lìa, kéo lên đẩy xuống cả chục lần nước vẫn không rút. Nước phòng tắm trên lầu lạnh ngắt. Quê xuống hầm tìm cách tăng nhiệt độ nước nóng nhưng đứng ngắm nghía cái lò nấu nước nóng một hồi lâu không biết cái chốt tăng nhiệt độ ở chỗ nào. Chị sợ mình làm sai sẽ hư bình nước nóng hay tệ hơn nữa làm cháy nhà, nổ ống ga. Chị như một bà nhà quê lên tỉnh lớ ngớ sợ đủ thứ. Sợ nhất là làm sai ý chồng sẽ bị khiển trách. Có cái lò nướng bằng ga để ngoài sân nhưng Quê không nhóm lửa được. Chị vặn nút, hơi ga thoát ra khè khè nhưng lửa không bật cháy. Chị sợ hơi ga độc nên thở dài rồi tắt lò.

Nhiều lần bực mình khi bắt gặp Lénine thổi lá sang nhà mình chị định nói thẳng với hắn ta nhưng ngần ngại cho rằng chuyện không đáng để mất lòng nhau. Cũng may là Quê đã nhịn lời nếu không bây giờ cũng áy náy với láng giềng. Lénine chuẩn bị bán nhà nên lúc nào cũng săn sóc nhà cửa cho tươm tất. Chả bù với nhà của Quê cỏ lên cao đến đầu gối không cắt, bụi rậm đầy gai mọc um tùm. Quê không biết sử dụng máy cắt cỏ cũng không dám hối thúc chồng. Mấy hôm nay nhờ cơn bão, không đi làm, Quê ra sân dùng kéo cắt cành cây tỉa bớt những bụi rậm quanh nhà. Lénine cũng mang máy thổi lá sang giúp chị dọn sạch lá cây rơi vì cơn bão Sandy .

– Chồng bà đâu rồi? Lénine hỏi.

– Ông nhà tôi đi Texas có công việc, dự định thứ Bảy sẽ về. Quê trả lời.

– Hôm nay là thứ Tư, thế còn ba ngày nữa.

– Vâng, tôi hy vọng là người ta sẽ khôi phục điện nhanh chóng ở phi trường. Chứ có lẽ phải mất một hay hai tuần nữa người ta mới có thể khôi phục điện cho xóm mình. Quê nói. Tôi muốn dọn hai cây anh đào trước nhà nhưng lúc này thì chẳng thuê được ai.

Hai cây anh đào không to lắm, đường kính chừng hơn hai tấc, nhưng cành lá um tùm muốn xê dịch hai cây này không phải dễ. Thứ Bảy Quê phải ra phi trường đón chồng nhưng cây ngã trên driveway không thể lấy xe ra. Nhà có cái cưa tay lưỡi nhỏ bằng ngón tay. Nếu dùng lưỡi cưa này chắc phải đến mùa bão năm sau mới xong. Trong nhà kho của chị có máy phát điện nhưng còn nằm trong thùng. Anh mua cái máy phát điện là để dùng những trường hợp như thế này nhưng không có anh ở nhà, Quê không biết sử dụng, thì có cũng như không. Quê không dám nhờ hàng xóm giúp. Tuy sống hòa thuận với láng giềng gia đình chị không quen thân với ai.  Chị cũng sợ nếu lỡ làm hư cái máy phát điện thì chẳng biết phải nói sao với chồng.

Chiều thứ Năm, Lénine lại sang sân nhà Quê lúc chị đang cắt những nhánh gai của bụi rậm trước nhà. Anh ta hỏi:

– Tiệm A&P ở Warren mở cửa. Tôi sẽ đi mua nước bà có cần mua gì không?

– Không ạ. Xin cám ơn ông. Nhà tôi còn nước, nếu ông cần xin cứ lấy thêm mà dùng.

Lénine từ chối, nhưng nấn ná trò chuyện.

– Cô con gái của bà đâu rồi?

– Cúp điện lâu quá, nó chịu lạnh không nổi nên mang con mèo đến nhà bạn tạm trú rồi. Quê trả lời. Còn con trai của ông chắc đã ra trường và đã đi làm?

– Vâng. Nó thuê một căn chung cư ở chung với bạn nó. Mẹ nó, vợ cũ của tôi sắp lập gia đình nên nó không thể ở chung với bà ấy. Tôi muốn nó ở chung với tôi cho đỡ tốn kém nhưng nó không chịu điều kiện của tôi.

– Ông đòi điều kiện gì?

– Nó không thể có sex với bạn gái của nó trong nhà tôi. Nếu nó muốn làm chuyện ấy trong nhà tôi thì nó phải giới thiệu một người bạn gái cho tôi.

Lénine vừa nói vừa mỉm cười có vẻ đắc chí tự thưởng thức câu nói tinh ranh của anh ta. Mùi thơm của củi đốt bay thoang thoảng từ nhà Lénine sang sân nhà Quê. Lénine dường như kéo dài câu chuyện. Hắn hỏi:

– Bà có biết đêm qua Christian phải vào bệnh viện không?

Christian là người hàng xóm đối diện với nhà tôi. Hai vợ chồng, Christian và Carmine mới dọn về từ hồi tháng Tám. Đêm bão về Christian sợ cây ngã không ngủ được phải lái xe xuống sân đậu xe của văn phòng bảo hiểm cạnh đường 22, nơi trống trải không cây để ngủ.

– Thế à? Ông ấy bị bệnh gì?

– Huyết áp tăng cao quá. Lénine trả lời.

– Có lẽ ông ấy lo lắng quá.

– Tôi thấy chẳng có gì mà ông ấy phải lo lắng đến mức như thế. Ít ra ông ta còn có bà vợ bên cạnh ngủ cho ấm. Còn tôi, tôi chẳng có ai.

Trong đêm, Quê suy nghĩ. Đã hai lần anh ta nhắc đến chuyện mặc quần đùi đi ngủ, ít ra cũng đã hai lần mời Quê sang nhà anh ta trốn lạnh. Dường như anh ta có ý lẳng lơ. Quê không hiểu chị có thái độ gì khiến anh ta dám đường đột như thế. Quê không phải là người xinh đẹp đến độ ai nhìn cũng thèm muốn. Chị tự hỏi không biết có nên hãnh diện khi được đàn ông chú ý như thế không. Mặt chị dường hơi méo mó. Hai cái răng cửa mấy lúc gần đây có vẻ lung lay không biết lúc nào sẽ rơi. Soi mình trong gương chị nhìn thấy một người đàn bà đầu bù tóc rối. Cái mũ đen trùm trên đầu với mớ tóc cột lỏng lẻo phía sau đã bung ra. Trông chị luộm thuộm già nua. Có thể hắn ta chỉ là một người quan tâm đến hàng xóm trong tình cảnh bất tiện nhưng hở hang trong cách nói. Nếu quả thật anh ta có ý tán tỉnh chị thì anh ta chắc là đang ở trong tình trạng quá tuyệt vọng vì thèm muốn. Đàn ông Mỹ có lẽ dễ dãi. Phụ nữ không cần nhiều nhan sắc chỉ cần không béo phì là tốt rồi. Hay hắn ta tò mò muốn biết mùi phụ nữ Á châu? Giời ạ. Cả mấy ngày nay chị không tắm, không gội đầu. Mùi đã nặng lắm rồi đây. Phụ nữ có chồng cũng chẳng nhằm nhò gì, có ai tính chuyện ăn đời ở kiếp đâu. Chỉ cần chút hơi ấm qua đêm thôi.

Đêm càng lúc càng lạnh. Bóng tối dày đặc. Đứng ở cửa sổ nhìn ra cuối trời không có chút ánh sáng nào. Quê mong mỏi nhìn thấy một bóng đèn điện như một người bạn ở xa và tưởng tượng đến sự cô đơn của những vì sao, hay của những chuyến phi hành liên vũ trụ. Chung quanh im lặng quá đến độ Quê đâm ra nhớ cả tiếng râm ran của máy sưởi, tiếng nước róc rách chảy khi bình nước nóng của lò sưởi bắt đầu, tiếng ngôi nhà chuyển mình răng rắc khi máy sưởi làm ấm căn nhà. Quê thấy thèm một ly trà nóng. Một thèm muốn thật đơn giản nhưng không thể thỏa mãn lúc này.

Nhiều lúc Quê thầm trách chồng. Anh dùng máy móc điện tử tinh vi để điều chỉnh nhiệt độ trong nhà, tinh vi quá đến độ Quê không biết sử dụng. Cứ mỗi lần thấy nước tắm không đủ ấm hay rửa chén không sạch dầu mỡ, Quê lại phải nhờ chồng tăng nhiệt độ lên. Mãi rồi Quê đâm ra chán, ngay cả chuyện ấm lạnh của chị phải tùy thuộc vào quyết định của chồng. Quê đâm ra ghét chồng. Những sự chăm sóc chu đáo của anh thường đưa chị vào vị trí không thể chọn lựa hay phản đối. Anh tùy tiện quyết định chuyện trong nhà không cần biết nhu cầu cũng như ý kiến của chị. Dần dần anh biến chị thành một người đàn bà cần phải tựa vào anh, và càng ngày chị càng trở nên khuất phục.

Quê tí toáy cái ý nghĩ sang nhà Lénine đêm nay để trốn lạnh. Hắn đã mời mọc “nếu bà cần một ly cà phê hay sữa chocolate xin mời sang nhà tôi.” Sao lại không chứ? Đày đọa thân mình để làm gì? Anh ấy có ở nhà để chịu lạnh giống như mình đâu. Hừm, đàn bà có chồng sang nhà đàn ông làm sao tránh khỏi chuyện tai tiếng. Đâu cần hắn dở thói trăng gió, chỉ cần gieo nghi ngờ là chị đã lỗ vốn rồi. Trời, ý nghĩ đó chỉ có ở Việt Nam chứ đàn bà Mỹ họ cóc sợ. Người Tây phương xem nhẹ chuyện ngoại tình. Cứ mở đại một cuốn tiểu thuyết là thấy có chuyện ngoại tình. Thấy cô nàng Francesca Johnson trong phim The Bridges in Madison County không? Chỉ cần ông chồng dẫn con đi hội chợ làng bên cạnh một tuần là đủ cho mối tình của Francesca nảy nở với anh chàng chụp ảnh nghệ thuật. Đàn ông cũng thế. Anh chồng tê liệt của phu nhân Chatterley cho phép vợ có con với người khác miễn là người đàn ông kia thuộc giai cấp chấp nhận được. Phụ nữ Mỹ không nghĩ làm tình với một người đàn ông là ban ân huệ cho người đàn ông ấy. Với họ chuyện xác thịt là phục vụ cho chính bản thân. Nhưng Quê đâu có phải là đàn bà Mỹ. Suốt cuộc đời Quê sống trong dây nhợ vô hình nhưng ràng buộc chặt chẽ của lề lối Khổng Tử. Quê nghĩ đến cái tên mình. Chỉ cần thêm cái dấu sắc là chữ quê biến thành chữ quế. Chị là cây quế giữa rừng. Đâu có phải ai muốn leo cũng được.

Quê lại tự chất vấn mình. Chị cưỡng lại chuyện đi tìm hơi ấm Lénine đã mời mọc vì muốn giữ đạo đức hay vì chị đã già nua đến độ tình dục không còn là một hứng thú nữa? Nếu Quê trẻ hơn năm hay mười tuổi và Lénine là một chàng trai cao ráo bụng lép tóc rậm như rừng thì chị có giữ được đạo đức của người phụ nữ Á Đông không? Có phải người ta dễ lên mặt đạo đức khi không bị cám dỗ hay không có điều kiện thuận lợi để bị cám dỗ. Giá Anna Karenina xấu xí thì chắc nàng đã không bị ánh lửa Vronsky quyến rũ để cuối cùng bị hủy diệt như loài thiêu thân.

Quê bỗng sợ hãi. Hắn đã theo mình vào garage và sân sau. Nhỡ hắn làm càng thì sao? Quê vói lấy cellphone, thấy vẫn còn điện, nhỡ có gì còn gọi 911. Đường dây điện thoại trong nhà vẫn còn hoạt động, mất điện, và internet nhưng đường dây điện thoại vẫn còn. Hắn không phải là mẩu người dám sàm sở. Quê tự trấn an.

Quê chợt nghĩ đến một đoạn trong phim Người Tình của Phu Nhân Chatterley, đôi tình nhân ngồi trần truồng trước lò sưởi. Vị phu nhân quí phái trẻ tuổi với anh thợ săn cùng chạy trần truồng trong cơn mưa rồi sau đó họ ngồi đính hoa dại lên thân thể tràn đầy nhựa sống của nhau. Tưởng tượng hơi lửa ấm nồng trên da làm Quê thấy rạo rực. Một người đàn bà Việt Nam thiếu nhan sắc sẽ nói gì chuyện gì với một anh Mỹ hói đầu bụng phệ? Nói về những cái răng đã bắt đầu lung lay, những sợi tóc bạc, và những quả thận yếu đuối? Không cần phải nói gì, chỉ cần xách theo chai rượu vang và miếng phô mai, làm vài ly thì rượu sẽ nói thay cho người. Hắn sẽ nói về những bất hòa với người vợ cũ và những bất hòa với cô bồ đang ở gần đây. Quê sợ sẽ phàn nàn về chồng vì càng ngày chị càng nhận ra những bất mãn ngấm ngầm của mình. Chị biết chị không thấy hạnh phúc trong hôn nhân nhưng không thể thổ lộ với ai. Người ta sẽ chê trách chị ngu xuẩn dại dột, nhất là gia đình chồng đều nghĩ đàn bà mà có được người chồng như chồng chị là một hạnh phúc lớn nhất trên đời. Những bất mãn của chị chỉ là một thứ Ví dầu tình bậu muốn thôi. Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra đó mà.

Buổi sáng khi Quê hỏi, “ông có người thân nào ở gần đây để ông có thể tạm trú qua cơn lạnh không,” thì Lénine nói.

– Cô bồ của tôi ở Piscataway đã đi tạm trú. Cô ấy không thích ở đây. Cô bảo nhiều cây quá giống như rừng. Ban đêm cô sợ bóng tối, ban ngày sợ sâu bọ. Cô thích ở thành phố hơn.

– Tôi thì khác. Tôi yêu cây cối. Tôi thấy cây khô cũng đẹp, mùa xuân lá xanh nõn, mùa thu lá trổ màu. Tôi thích cái quạnh quẽ yên lặng của rừng. Không phải ở đâu cũng có chim chóc, sóc, nai và gà lôi như ở đây.

– Tôi cũng hợp với bà ở điểm này.

Cái lạnh chừng như tăng thêm từng giây. Quê nhìn về phía cuối đường nơi có căn nhà kiểu cottage của hắn ta. Ánh sáng vàng nhạt lung linh ở cửa sổ làm Quê nghĩ đến ánh lửa ấm cúng trong lò sưởi. Lạnh lùng thay láng giềng ơi, láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều. Quê nghĩ đến chồng. Chắc không ai ngờ chỉ mấy ngày bị lạnh mà một hôn nhân đầy hạnh phúc có thể bị soi mòn khi anh láng giềng đầu hói bụng phệ tòm tem dụ dỗ một phụ nữ có chồng bằng hơi ấm của cái lò sưởi trong nhà. Có lẽ cái vẻ quê mùa thật thà của Quê làm hắn tin là có thể dụ dỗ chị. Biết đâu chừng hắn nghĩ là hắn làm ơn tạo cơ hội cho chị biết mùi đàn ông Mỹ? Quê cũng tự trách mình đã quá nhu nhược ỷ lại vào chồng. Chị phải tự săn sóc chuyện ấm lạnh của bản thân chứ. Đêm qua anh gọi điện thoại hỏi han, nghe chị than lạnh anh nhắc chị còn hơn hai chục pounds than đá trong nhà kho. Nếu lạnh quá chị có thể dùng đỡ đến thứ Bảy anh về anh sẽ tính. Chị e dè hỏi chồng, có an toàn không. Anh trả lời giọng chắc nịch. Sao lại không? Quê nhớ chồng chị đã nhiều lần bảo rằng đốt than đốt củi trong nhà không tốt. Nhưng bây giờ thì chị không muốn gặng hỏi gì nữa. Chị cần hơi ấm, miễn là chị cẩn thận đừng để cháy nhà.

Quê bưng ngọn nến vào trong nhà kho lục lọi, thấy còn một khúc củi nhân tạo anh thường đốt mỗi khi có khách đến chơi vào mùa lạnh, để khoe nhà mình có lò sưởi. Chị thấy bao than đá còn đầy. Hì hục bưng cả than và củi vào nhà, Quê đốt củi cháy bùng lên, rồi chất than barbecue chung quanh củi. Đây là loại mạt cưa được ép chặt có tẩm dầu rất dễ bén lửa nên chẳng mấy chốc than và củi cháy đều, mùi khói hăng hăng dễ chịu. Quê lấy chai rượu vang rót đầy ly nhâm nhi. Quê đóng cửa lò sưởi, trải mền nằm cạnh lò sưởi.

Quê suy nghĩ: “Nếu đừng bị lạnh thì chẳng đến nỗi nào.” Hàng xóm của chị khá tử tế. lúc sẩm tối, có một người lạ mặt dùng máy cưa chạy bằng xăng cắt hai cây anh đào thành từng khúc nhỏ. Quê hỏi chị cần phải trả bao nhiêu tiền để đáp ơn của ông. Người khách lạ mỉm cười nhìn Quê không trả lời. Hỏi thăm láng giềng, Quê biết đó là Dave ở bên đường Brandy Vine. Dave hoạt động trong nhóm Hướng Đạo Sinh với Jack, ông láng giềng của chị. Cậu bé hàng xóm học chung lớp với Ách Cơ dùng máy phát điện của nhà cậu bơm nước từ giếng lên và chia cho mỗi nhà vài thùng nước để dùng. Quê cảm động trước sự giúp đỡ này. Quả thật là chung quanh mình có những vị thiên thần im lặng. Không phải lúc nào mình cũng có thể đền đáp sự giúp đỡ của người chung quanh nên có khi cách đền đáp tốt nhất là giúp người khác khi mình có thể.

– Ông Lévine ơi, tôi sang viếng ông đây.

– Bà nhớ nhầm tên tôi rồi.

– Ồ. Tôi biết chứ. Nhưng tôi thích gọi ông là Lévine vì đó là tên nhân vật tôi rất yêu thích trong truyện Anna Karénina. Chị không thể làm phật ý hắn bằng cách gọi hắn là Lénine tên của ông Trùm Sò Liên Xô nên ngầm lấy lòng hắn bằng cái tên Lévine.

– Tôi có đọc quyển ấy từ lúc tôi còn ở Trung học. Bây giờ thì chẳng còn nhớ gì cả. Bà thích văn chương nhỉ? Tôi thấy trong nhà bà rất nhiều sách. Gã hàng xóm càng nói chuyện càng tỏ ra duyên dáng làm Quê cứ bật cười. Hắn  tâm sự:

– Ngày còn trẻ tôi yêu một cô gái người Hoa. Cô ấy tên Muxia. Tôi không hiểu tại sao bố của Muxia không thích tôi dù tôi rất đàng hoàng lễ phép. Mỗi lần tôi muốn đưa Muxia đi chơi chúng tôi phải lén lút như là những người phạm pháp. Ông già ngồi ngay trong phòng khách trông vẻ mặt của ông tôi nghĩ ông có thể ngoạm một phát là rứt đầu tôi ra khỏi cổ. Những câu chào hỏi của tôi chỉ được trả lời bằng những tiếng gầm gừ trong cổ họng. Có phải đàn ông Á châu không thích nhìn thấy con em của họ quan hệ với người ngoại chủng?

Lenn nhìn sâu vào mặt Quê, ánh lửa lò sưởi làm mắt ông ta long lanh. Giọng hắn ta trở nên ngọt ngào quyến rũ.

– Ngày bà mới dọn về tôi thấy ngay bà giống Muxia ở mái tóc dài và khuôn mặt hình trái hạnh nhân. Muxia có làn da rất mềm nhất là ở những vùng kín đáo. Vợ cũ của tôi da trắng tóc vàng, đùi và tay đều có lông nhìn thì không thấy vì chúng có màu bạch kim nhưng sờ vào rất nhám và cứng. Tôi càng thích bà hơn vì bà rất thông minh.

Quê cười. Gã này sành tâm lý lắm. Với đàn bà xấu thì phải khen thông minh. Đàn bà Á châu dễ bị dụ dỗ vì họ đói khát lời khen từ những ông chồng gia trưởng và nghiêm khắc. Chỉ cần vài lời khen là lòng họ trở nên mềm như tơ. Khi hắn định hôn chị thì bất ngờ hai cái răng cửa của chị rơi ra. Hai cái răng lung lay chọn đúng lúc này để tự giải thoát. Quê bụm miệng chạy ra khỏi cửa vấp ngã và tỉnh giấc. Giá mà có đèn sáng Quê sẽ ghi lại giấc mơ ngắn ngủi với gã hàng xóm rồi gởi lên trang mạng Gió O.  Quê có thể vẽ vời cho câu chuyện thêm phần lâm ly nhưng chị lại lo sợ. Nhỡ chồng chị tưởng là chuyện có thật đâm ra nghi ngờ ghen tuông với gã hàng xóm thì khổ. Văn ba xu chỉ tổ làm xấu hổ chồng con. Đàn bà có chồng thì chẳng nên dấn bước vào thế giới văn chương.

Hơi ấm của rượu và lò sưởi làm chị thấy dễ chịu. Quê tiếp tục ngủ và lần này nhẹ nhàng bước vào một giấc mơ rất đẹp. Quê bước trên mây bềnh bồng, chung quanh chị là những dải lụa màu sắc rực rỡ bay trong gió. Nắng chiếu trên rừng hoa quì, bên dưới nhìn qua khe hở của mây là đồng cỏ xanh non. Tiếng gió du dương như tiếng vĩ cầm. Chị thấy Lénine đang đẩy cái wagon be bé chở củi sang nhà chị. Con dốc cao quá, hắn ta phải còng lưng đẩy cái wagon theo đường zig-zag. Quê bơi trong gió, lướt mây như cánh chim. Chị nghe âm vang một bài hát xa xưa “và những lạnh ấm riêng của mình đời người ai cũng có. Hãy cho nhau tình yêu. Hãy thương nhau thật nhiều.”

Lần đầu tiên dùng lò sưởi, Quê không biết là chị cần phải kéo cái cần đẩy bên dưới ống khói để khói trong lò sưởi theo ống khói thoát ra ngoài. Trong bóng tối chị không để ý trên bao than có dấu hiệu cái đầu lâu nằm dưới hai gạch tréo màu đỏ và lời cảnh cáo in đậm KHÔNG ĐƯỢC ĐỐT THAN TRONG NHÀ. RẤT NGUY HIỂM. CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI. Quê ấm áp bay hoài trong giấc mơ.

Lời tác giả: Cơn bão Sandy có thật nhưng những chi tiết xảy ra trong truyện phần lớn là tưởng tượng hay phóng đại.

Nguyễn thị Hải Hà

Không tự chuyển hóa là phản bội dân tộc—Ngô Nhân Dụng

Cái đảng Cộng sản chắc phải “đốn” lắm rồi. Hết hội nghị này tới hội nghị khác hô hào chỉnh đốn Đảng, rồi lại hô to hơn, phải tăng cường chỉnh đốn Đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng lại mới họp một hội nghị cán bộ toàn quốc dạy dỗ cán bộ về tăng cường chỉnh đốn Đảng!

Đốn là đứa nào mà phải chỉnh đi chỉnh lại hoài như vậy? Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, giải thích chữ Chỉnh đốn : “sự gì, cái gì đã tán loạn lâu rồi mà lại sửa sang lại cho được như cũ gọi là chỉnh đốn.” Nguyễn Phú Trọng đang lo chỉnh đốn Đảng bởi vì cái đảng của ông ta “đã tán loạn lâu rồi!” Và ông muốn sửa sang nó “cho được như cũ.”

Cảnh toán loạn trong đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra từ mấy chục năm nay rồi nhưng đến đời Nguyễn Phú Trọng đã bùng nổ mạnh. Nguyễn An Dân đã mô tả cảnh tán loạn qua mấy chữ: Đảng bắn nhau; Đảng bắn Dân; Dân bắn lại Đảng!

Một vụ Dân bắn lại Đảng xẩy ra năm 2013, một “dân oan” là Đặng Ngọc Viết mặc quần áo nghiêm chỉnh, tay sách chiếc cặp đen thong dong vào trụ sở hành chánh thị xã Thái Bình bắn chết bốn cán bộ Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố: Vũ Ngọc Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm; và Bùi Đức Xuân, Vũ Công Cương và Nguyễn Thanh Dương. Giết người xong Đặng Ngọc Viết ra về, đến chiều tới cổng chùa Dục Dương bên cạnh nhà tự sát. Các nạn nhân là những người đang thi hành “dự án mở đường” qua khu vực đất nhà anh Viết, và gia đình anh không được bồi thường xứng đáng.

Vụ Đảng bắn nhau diễn ra tại Yên Bái năm nay. Đỗ Cường Minh, trưởng Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, vào trụ sở thành phố bắn chết hai quan đầu tỉnh, bí thư Tỉnh ủy Phạm Duy Cường và Chủ tịch tỉnh kiêm Trưởng ban Tổ chức Ngô Ngọc Tuấn. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bay lên ngay coi xác rồi hứa điều tra. Phó thủ tướng Trương Hòa Bình gửi công văn chỉ đạo cơ quan công an khởi tố, điều tra, xác định nguyên nhân vụ. Bốn tháng hơn rồi, không còn nghe nói gì nữa.

Cảnh toán loạn gần đây nhất là vào tháng Chín, 2016 với những cuộc tháo chạy của những Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy, Lê Chung Dũng, tất cả đều liên can tới các công ty dầu khí, những cái ổ chứa đầy tiền; Thanh còn từng giữ chức phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang. Cả ba người này đều đang bị nghi ngờ tham nhũng, bị điều tra hoặc bị truy tố, nhưng đều bình yên cao chạy xa bay! Tán loạn bên trong và bên ngoài đảng! Nguyễn Phú Trọng đang cầm đầu đảng, mà đảng thì được hiến pháp xác định toàn quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” không làm được gì cả, chỉ còn sử dụng món “võ mồm!”

Nguyễn Phú Trọng đến nói chuyện với các cử tri của mình tại Đông Anh, Hà Nội, quê hương của cả ông Trọng và Trịnh Xuân Thanh. Ông dõng dạc tuyên bố: “Đã ra lệnh truy nã quốc tế với Trịnh Xuân Thanh và đang phối hợp với các nước bắt bằng được.”Nhà báo tự do Người Buôn Gió kể chuyện trên rồi nhận xét: “Trọng bày tỏ sự cay cú, hằn học với Trịnh Xuân Thanh một cách trẻ con.” Trong lúc đó Trịnh Xuân Thanh vẫn liên lạc với bạn ở Việt Nam, còn kể chuyện mình đang ở nước Đức như thế nào để đưa lên mạng, chẳng thấy lệnh truy nã quốc tế nào hết! Người Buôn Gió kết luận rằng Trọng chỉ “phát biểu mị dân cho mình đỡ nhục vì không làm gì được Trịnh Xuân Thanh cả!”

Nhà báo Huy Đức cho rằng bản danh sách những người trong ngành Dầu Khí “có khả năng chạy trốn lên tới 192 nhân vật!” Quả thật là tán loạn! Trọng “loay hoay với những kẻ đã cao chạy xa bay” không bắt được, bèn quay ra ra lệnh cách chức mấy quan chức đã nghỉ hưu rồi, không còn chức nào để cách nữa!

Một đảng viên là Giáo sư Trần Đình Sử, được tiếng là thận trọng, cũng phải buông lời phê phán: “chế độ ta đạt đến sự thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có… Thật khủng khiếp!”

Bất lực trước những cảnh tán loạn đó, Nguyễn Phú Trọng quay ra “Chỉnh đốn Đảng!” Trọng đã từng hô hào chống tham nhũng để chỉnh đốn đảng. Ông Nguyễn Đăng Quang, cựu Đại tá Công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội nhận xét: “lãnh đạo Đảng càng hô hào chống tham nhũng, càng ra nhiều nghị quyết, chỉ thị chống tham nhũng, thì tham nhũng này lại càng khỏe ra càng mạnh lên!” Và ông kết luận: “đánh tham nhũng chống tham nhũng chẳng qua chỉ là đánh trận giả, bắn chỉ thiên là chính thôi!” Cần giải thích cho các bạn trẻ hiểu nghĩa, bắn chỉ thiên tức là đưa nòng súng ngược lên trời, đạn bắn bay lên trời chứ không trúng ai cả!

Chỉ có thể chống tham nhũng bằng cách bắn chỉ thiên bởi vì chính các quan cộng sản cũng công nhận rằng “đánh tham nhũng tức là ta lại đánh ta!” Hình ảnh bắn chỉ thiên giải thích được tại sao những người bị nghi tham nhũng như quý ông Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy, Lê Chung Dũng đều thoải mái biến đi không để lại dấu vết!

Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn được đàn em tôn xưng là giáo sư. Sau khi bắn chỉ thiên chống tham nhũng, giáo sư Trọng đã quay ra bắn tiếp vào “Tình trạng suy thoái” của đảng, nhắm thẳng vào hai mục tiêu: “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa.” Ông cảnh báo các cán bộ, đảng viên rằng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.” Đáng lo hơn là chúng “còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.” Việc chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một “cuộc chiến đầy cam go,” nhưng, ông nói, “không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và chế độ.”

Điều ông Trọng nhấn mạnh là hai hiện tượng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nguy hiểm cho “vận mệnh của Đảng và chế độ” chứ ông không nói gì tới vận mệnh nước Việt Nam cả. Vận mệnh nước Việt Nam hiện nay là cá chết, biển chết, dân đói, trẻ em thất học, quân giặc xâm lăng đã chiếm biển, chiếm đảo, xây phi trường và căn cứ quân sự đe dọa hai ngàn cây số bờ biển. Nhưng tất cả những tai họa đó không đáng lo bằng sự kiện các đảng viên “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa;” cho nên ông Nguyễn Phú Trọng chẳng cần quan tâm!

Ông Trọng không quan tâm là phải, bởi vì chính những người đảng viên cộng sản tỉnh ngộ khi nhìn ra những sai lầm hại dân hại nước, chính họ đã tự chuyển hóa để đòi thay đổi. Những người đang “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” bây giờ chỉ noi theo các đàn anh đi trước, từ Hoàng Minh Chính, Trần Độ tới Tống Văn Công, đặt vận mệnh dân tộc lên trên vận mệnh Đảng và chế độ! Họ không chấp nhận tiếp tục nhắm mắt, cúi đầu theo đảng cho nên họ mới lên tiếng đòi cho người dân Việt được sống tự do dân chủ, đòi phải cứng rắn đương đầu với kẻ thù xâm lăng cướp nước.

Những người tỉnh ngộ sớm nhìn thấy tai họa của đất nước, không phải chỉ là những tai họa vật chất như đất đai, rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên. Tai họa lớn nhất là một dân tộc sống không có phương hướng. Họ phải tự chuyển hóa để nhìn rõ vấn đề đó. Kỹ thuật truyền thông hiện đại đã giúp nhiều người trao đổi với nhau dù không gặp mặt. Các thông tin và ý kiến truyền từ người này qua người khác, tạo ra những cộng đồng chính trị ảo trong đó các công dân tự ý thức mình có quyền đòi thay đổi. Mọi người trong cộng đồng này biết rằng kỹ thuật thông tin mới sẽ khiến cho các chính quyền, ở bất cứ nước nào, khó nói dối trá, khó ăn cắp của công, và khó giết người, như những cảnh ai bị gọi tới đồn công an một, hai ngày là chết!

Bất cứ người Việt Nam, một đảng viên cộng sản tỉnh táo nào, cũng phải thấy nếu không thay đổi thì quê hương sẽ tiếp tục chìm đắm trong cảnh nghèo thua kém các nước chung quanh, và chủ quyền đất nước mất dần vào tay ngoại bang. Các đảng viên không tự chuyển hóa phải thấy chính mình đang phản bội dân tộc! Một “chế độ thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có” ở nước Việt Nam và trên mặt trái đất, nếu nó còn tiếp tục cầm quyền thì sẽ đưa đất nước về đâu?

Nhờ phương tiện thông tin mới, những người đã mất niềm tin vào dân tộc, mất niềm tin vào khả năng xây dựng lại quê hương bây giờ đang nuôi lại niềm tin, họ sẵn sàng đứng lên tự mình làm công việc thay đổi. Niềm tin đó có thể lan truyền trong giới thanh niên, giới trí thức, kể cả các đảng viên cộng sản. Nhờ thế, chính các đảng viên cũng sẽ muốn thay đổi. Làm sao họ có thể tiếp tục cúi đầu theo giáo sư Trọng “tiến lên chủ nghĩa xã hội” trong khi chính giáo sư từng nói rằng “Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa!”

Đó là mối đe dọa trên vận mạng của đảng Cộng sản mà ông Nguyễn Phú Trọng muốn chỉnh đốn. Nhưng ông không thể nào bịt mắt, bịt tai tất cả các đảng viên để mình ông độc thoại mãi mãi!

Ngô Nhân Dụng

New ways to get more done in Outlook.com-Microsoft Outlook

New ways In Outlook


Using Outlook Web App (Office 15-Minute Webinar)


8 great timesavers in Outlook (Office 15-Minute Webinar)